Ân Phước Nhịn Chay & Solah Taroweeh Tháng Romadon Tìm Hiểu, Lợi Ích, Ân Phước & Đặc Điểm Romadon ()

 

|

Ân Phước Nhịn Chay & Solah Taroweeh Tháng Romadon Tìm Hiểu, Lợi Ích, Ân Phước & Đặc Điểm Romadon

إِنَّ الْحَمْدَ لِلهِ نَحْمَدُهُ وَنَسْتَعِينُهُ وَنَسْتَغْفِرُهُ وَنَعُوذُ بِاللهِ مِنْ شُرُورِ أَنْفُسِنَا وَمِنْ سَيِّئَاتِ أَعْمَالِنَا، مَنْ يَهْدِهِ اللهُ فَلَا مُضِلَّ لَهُ، وَمَنْ يُضْلِلْ فَلَا هَادِيَ لَهُ، وَأَشْهَدُ أَنْ لَا إِلَـٰهَ إِلَّا اللهُ وَحْدَهُ لَا شَرِيكَ لَهُ وَأَشْهَدُ أَنَّ مُحَمَّدًا عَبْدُهُ وَرَسُولُهُ، صَلَّى اللهُ عَلَيْهِ، وَعَلَى آلِهِ وَأَصْحَابِهِ، وَمَنْ تَبِعَهُم بِإِحْسَانٍ إِلَى يَوْمِ الدِّيْنِ وَسَلَّمَ تَسْلِيْماً كَثِيْراً. أَمَّا بَعْدُ:

Alhamdulillah, mọi lời ca ngợi và tụng niệm đều kính dâng Allah, chúng tôi tạ ơn Ngài, cầu xin Ngài giúp đỡ và tha thứ. Cầu xin Allah che chở tránh khỏi mọi điều xấu xuất phát từ bản thân và trong mọi việc làm của chúng tôi. Ai đã được Allah dẫn dắt sẽ không bao giờ lầm lạc và ai đã bị Allah bỏ mặt sẽ không bao giờ tìm được đâu chân lý. Tôi tuyên thệ không có Thượng Đế nào xứng đáng được thờ phụng mà chỉ có Allah duy nhất không có cộng tác hay đối tác cùng Ngài, và xin chứng nhận rằng Muhammad là bề tôi và cũng là vị Thiên Sứ của Ngài, cầu xin Allah bình an và phúc lành cho người cùng gia quyến của Người và tất cả bằng hữu của Người cả những ai noi theo tấm gương đức hạnh của họ đến ngày phán xét và sự bằng an ngày càng nhiều hơn. Amma Ba'd:

Đây là bài viết ngắn gọn nói về "Ân Phước Nhịn Chay" bao gồm những nội dung sau: định nghĩa nhịn chay theo nghĩa Arập và theo nghĩa giáo lý Islam, ân phước và đặc điểm của nhịn chay, ý nghĩa và lợi ích của nhịn chay. Cũng trong bài viết này bao gồm cả ân phước tháng Romadon chi tiết như: nhịn chay, dâng lễ Solah Sunnah và đặc điểm về nó. Tất cả đều được dẫn chứng cụ thể.

Cầu xin Allah chứng giám và ban cho việc làm nhỏ nhoi này được hồng ân và thành tâm kính dâng lên Ngài, hãy ban cho bài viết này giúp ích cho bề tôi ở cuộc sống hiện tại cả sau khi bề tôi trở về với Ngài và đồng thời ban hữu ích cho những ai chú tâm đến bài viết. Quả thật, Allah là Đấng Bảo Hộ hoàn hảo nhất và là Đấng Rộng Lượng nhất trong ban phát và ban thưởng, duy chỉ Ngài thừa đủ giúp đỡ bề tôi và hồng phúc thay cho việc phó thác đó, không sự chuyển động và sức mạnh nào có thể phát huy tác dụng đến khi được sự chấp thuận của Allah Đấng Tối Cao, Đấng Vĩ Đại. Cầu xin Allah ban bình an và phúc lành cho bề tôi của Ngài, cho Rosul, cho Thiên Sứ của Ngài, cho Người đáng tin cậy nhất đã đảm nhận lời mặc khải, Người tốt nhất trong tất cả tạo vật, Nabi của chúng tôi Muhammad bin Abdullah, cùng gia quyến của Người, tất cả bằng hữu của Người và cho cả những ai noi theo tấm gương tốt đẹp của họ đến ngày phán quyết.

Chiều thứ năm ngày 26/05/1427 H

Abu Abdur Rohman

Sa-eed bin Aly bin Wahf Al-Qohtony

 Thứ nhất: Định nghĩa nhịn chay theo nghĩa Arập và theo nghĩa giáo lý Islam:

 Nhịn chay theo nghĩa Arập:

 nghĩa là kiêng cử([1]). Có người cho rằng: nhịn chay vào ban ngày khi mặt trời đứng bóng, Allah phán kể về chuyện của bà Mar-yam:

قال تعالى :      (إِنِّي نَذَرْتُ لِلرَّحْمَٰنِ صَوْمًا ) مريم: ٢٦

{Quả thật, tôi đã nguyện với Đấng rất mực Độ Lượng là tôi nhịn chay} Mar-yam: 26. Tức bà sẽ kiêng không nói chuyện và ý nghĩ này được Allah phân trần ở vế sau:

 قال تعالى :         (فَلَنْ أُكَلِّمَ الْيَوْمَ إِنسِيًّا  ) مريم: ٢٦

{Do vậy, tôi sẽ không bao giờ nói chuyện với một ai trong ngày hôm nay.} Mar-yam: 26.

 Nhịn chay theo nghĩa giáo lý Islam:

là sự kiêng cử một số điều nhất định đó là: nhịn ăn, nhịn uống, nhịn quan hệ vợ chồng kể từ ánh rạng đông đến mặt trời lặn có định tâm([2]).

Có câu định nghĩa khác: là sự kiêng cử một số điều nhất định trong thời gian nhất định([3]).

Có câu định nghĩa khác: là sự kiêng cử nhất định, trong thời gian nhất định dựa theo một số yêu cầu nhất định([4]).

Có câu định nghĩa khác: là sự kiêng cử những điều làm hư sự nhịn chay dựa theo một số yêu cầu nhất định([5]).

Có câu định nghĩa khác: Kiêng cử có chủ định, có sự định tâm đối với một số điều nhất định trong khoảng thời gian nhất định và dành cho một số người nhất định([6]).

Có câu định nghĩa khác: Kiêng không ăn, không uống, không quan hệ vợ chồng và những điều cấm khác đã được giáo lý qui định vào ban ngày dưới hình thức giáo lý cho phép([7])([8]).

 * Định nghĩa được lựa chọn:

Là sự tôn thờ Allah bằng cách nhịn chay có chủ định, có định tâm không ăn, không uống và không phạm tất cả những điều làm hư sự nhịn chay bắt đầu từ rạng đông đến mặt trời lặn dành riêng cho một số người nhất định cùng với một số điều kiện nhất định([9]).

 Thứ hai: Ân phước và đặc điểm nhịn chay.

Sự nhịn chay có rất nhiều ân phước và đặc điểm rất vĩ đại như sau:

 1- Nhịn chay nằm trong số việc làm được Allah tha thứ tội lỗi và được ban thưởng trọng hậu như Allah đã phán:

قال تعالى :      (إِنَّ الْمُسْلِمِينَ وَالْمُسْلِمَاتِ وَالْمُؤْمِنِينَ وَالْمُؤْمِنَاتِ وَالْقَانِتِينَ وَالْقَانِتَاتِ وَالصَّادِقِينَ وَالصَّادِقَاتِ وَالصَّابِرِينَ وَالصَّابِرَاتِ وَالْخَاشِعِينَ وَالْخَاشِعَاتِ وَالْمُتَصَدِّقِينَ وَالْمُتَصَدِّقَاتِ وَالصَّائِمِينَ وَالصَّائِمَاتِ وَالْحَافِظِينَ فُرُوجَهُمْ وَالْحَافِظَاتِ وَالذَّاكِرِينَ اللَّهَ كَثِيرًا وَالذَّاكِرَاتِ أَعَدَّ اللَّهُ لَهُم مَّغْفِرَةً وَأَجْرًا عَظِيمًا ) الأحزاب: ٣٥

{Quả thật, những người Muslim nam và nữ, những người có đức tin nam và nữ, những người ngoan đạo nam và nữ, những người bố thí nam và nữ, những người kiên nhẫn nam và nữ, những người kính sợ (Allah) nam và nữ, những người chân thật nam và nữ, những người nhịn chay nam và nữ, những người giử mình trong sạch (tránh khỏi tội quan hệ trước hôn nhân) nam và nữ, và những người tụng niệm Allah nam và nữ đã được Allah tha thứ tội và chuẩn bị cho họ phần thưởng vĩ đại.} Al-Ahzab: 35.

 2- Nhịn chay là điều tốt đẹp nhất đối với người Muslim nếu ai biết được điều này như Allah đã phán:

قال تعالى :         )وَأَن تَصُومُوا خَيْرٌ لَّكُمْ ۖ إِن كُنتُمْ تَعْلَمُونَ ) البقرة: ١٨٤

{Và sự nhịn chay là điều tốt nhất cho các người nếu các người biết được điều đó.} Al-Baqoroh: 184.

 3- Nhịn chay là nguyên do tạo nên lòng kính sợ Allah như được phán:

قال تعالى :         (يَا أَيُّهَا الَّذِينَ آمَنُوا كُتِبَ عَلَيْكُمُ الصِّيَامُ كَمَا كُتِبَ عَلَى الَّذِينَ مِن قَبْلِكُمْ لَعَلَّكُمْ تَتَّقُونَ ) البقرة: ١٨٣

{Hỡi những người có đức tin! (Allah) đã truyền xuống sự nhịn chay bắt buộc các người cũng như những thế hệ trước các người phải nhịn hồng trở thành người biết kính sợ (TA)} Al-Baqoroh: 183.

 4- Nhịn chay là vật chắn che chở người Muslim nhịn chay với lửa hỏa ngục như được thuật lại Hadith sau:

عَنْ جَابِرٍ t  أَنَّ رَسُولَ اللهِ ﷺ‬ قَالَ: ((قَالَ رَبُّنَا ﷻ‬: الصِّيَامُ جُنَّةٌ يَسْتَجِنُّ بِهَا الْعَبْدُ مِنَ النَّارِ، وَهُوَ لِي وَأَنَا أَجْزِي بِهِ)) أخرجه أحمد، 23/33، برقم 14669، و23/411، برقم 15264، وقال محققو المسند: (( حديث صحيح بطرقه وشواهده)).

Ông Jabir t thuật lại lời Nabi ﷺ‬: "Thượng Đế của chúng ta phán bảo: nhịn chay là vật chắn che chở bề tôi (nhịn chay) với hỏa ngục, và nó (sự nhịn chay) là của riêng TA và Ta sẽ ban thưởng về nó."([10])

عَنْ كَعْبِ بْنِ عُجْرَةَ t قَالَ: قَالَ لِى رَسُولُ اللهِ ﷺ‬: ((أُعِيذُكَ بِاللهِ يَا كَعْبُ بْنَ عُجْرَةَ مِنْ أُمَرَاءَ يَكُونُونَ مِنْ بَعْدِى، فَمَنْ غَشِىَ أَبْوَابَهُمْ فَصَدَّقَهُمْ فِى كَذِبِهِمْ، وَأَعَانَهُمْ عَلَى ظُلْمِهِمْ، فَلَيْسَ مِنِّى وَلَسْتُ مِنْهُ، وَلاَ يَرِدُ عَلَىَّ الْحَوْضَ، وَمَنْ غَشِىَ أَبْوَابَهُمْ أَوْ لَمْ يَغْشَ فَلَمْ يُصَدِّقْهُمْ فِى كَذِبِهِمْ وَلَمْ يُعِنْهُمْ عَلَى ظُلْمِهِمْ فَهُوَ مِنِّى وَأَنَا مِنْهُ، وَسَيَرِدُ عَلَىَّ الْحَوْضَ. يَا كَعْبُ بْنَ عُجْرَةَ: الصَّلاَةُ بُرْهَانٌ، وَالصَّوْمُ جُنَّةٌ حَصِينَةٌ، وَالصَّدَقَةُ تُطْفِئُ الْخَطِيئَةَ كَمَا يُطْفِئُ الْمَاءُ النَّارَ. يَا كَعْبُ بْنَ عُجْرَةَ إِنَّهُ لاَ يَدْخُلُ الْجَنَّةَ لَحْمٌ نَبَتَ مِنْ سُحْتٍ، النَّارُ أَوْلَى بِهِ. يَا كَعْبُ بْنَ عُجْرَةَ، النَّاسُ غَادِيَانِ فَمُبْتَاعٌ نَفْسَهُ فَمُعْتِقُهَا أَوْ بَائِعٌ نَفْسَهُ مُوبِقُهَا)) الترمذي، كتاب الصلاة، باب ذكر فضل الصلاة، برقم 614، وأحمد 22/ 332، برقم 14441، وصححه الألباني في صحيح الترمذي، 1/336، والحديث فيه: التحذير من إمرة السفهاء، والتحذير من تصديقهم، وإعانتهم على ظلمهم، فليراجع هناك.

Ông Ka'b bin ﷻ‬'jroh t kể: Nabi m đã nói với tôi rằng: "Ta cầu xin Allah che chở cho ông hỡi Ka'b bin ﷻ‬'jroh tránh khỏi uy quyền của cấp lãnh đạo. Đối với ai ở dưới quyền cai trị của họ rồi tin tưởng vào lời nói dối của họ và còn tiếp tay họ làm đều bất công thì chắc chắn y không phải là người của cộng động Ta và Ta cũng sẽ không (biện hộ) cho y lại càng không được Ta ban cho nước của Al-Hawdh (giếng nước của ngày tận thế), còn ai dưới quyền cai trị của họ nhưng không tin vào lời nói dối của họ cũng không tiếp tay họ làm điều bất công thì chắc chắn y là người thuộc cộng đồng Ta và Ta sẽ (biện hộ) cho y và y được Ta ban cho nước uống từ Al-Hawdh. Hỡi Ka'b bin ﷻ‬'jroh, lễ Solah là vật chứng, sự nhịn chay là vật chắn kiên cố, sự bố thí sẽ xóa tội lỗi giống như nước dập tắt lửa. Hỡi Ka'b bin ﷻ‬'jroh, chắn chắn sẽ không được vào thiên đàng đối với những ai mà thịt của chúng được tạo thành từ điều Harom, chính hỏa ngục sẽ là nơi ở đầu tiên của y. Hỡi Ka'b bin ﷻ‬'jroh, tất cả mọi người cứ mỗi sáng đem thân mình ra bán có người cứu vớt thân mình và có người hủy hoại thân mình."([11])

عَنْ عُثْمَانَ بْنِ أَبِى الْعَاصِ t قَالَ: إِنِّى سَمِعْتُ رَسُولَ اللهِ m يَقُولُ: ((الصِّيَامُ جُنَّةٌ كَجُنَّةِ أَحَدِكُمْ مِنَ الْقِتَالِ)) وَكَانَ آخِرُ مَا عَهِدَ إِلَىَّ رَسُولُ اللهِ m حِينَ بَعَثَنِى إِلَى الطَّائِفِ قَالَ: ((يَا عُثْمَانُ تَجَوَّزْ فِى الصَّلاَةِ فَإِنَّ فِى الْقَوْمِ الْكَبِيرَ وَذَا الْحَاجَةِ)) وفي لفظ: ((الصِّيَامُ جُنَّةٌ مِنَ النَّارِ كَجُنَّةِ أَحَدِكُمْ مِنَ الْقِتَالِ)) أحمد 26/202، برقم 6273، و26/205، برقم 16278، و29/433، برقم 17902، وصحح إسناده محققو مسند الإمام أحمد.

ông Uthman bin Abi Al-O's t kể: chính tai tôi nghe Rosul m nói rằng: "Nhịn chay là vật chắn giống như cái chiêng mà các người dùng để che khi chiến đấu." Ông kể tiếp: và lời nói cuối cùng Rosul m khuyên tôi khi Người cử tôi đi To-if, Người nói: "Hỡi Uthman, hãy tạo sự dễ dàng trong lễ Solah (tức đừng kéo dài buổi lễ), bởi trong số họ có người già yếu và có người bận công việc." Có đường truyền khác: "Nhịn chay là vật chắn khỏi hỏa ngục giống như cái chiêng mà các người dùng để che khi chiến đấu."([12])

 5- Nhịn chay là sự phòng ngự kiên cố thoát khỏi hỏa ngục như được nhắc trong Hadith sau:

عَنْ أَبِي هُرَيْرَةَ t عَن النَّبِيِّ m قَالَ: ((الصِّيام جنَّةٌ وحِصْنٌ حصينٌ مِنَ النَّار)) أحمد 15/123، برقم 9225، وصحح إسناده محققو المسند، 15/123، وحسنه المنذري، وقال الألباني في صحيح الترغيب والترهيب، 1/578:(( حسن لغيره)).

Ông Abu Huroiroh t thuật lại lời Nabi m: "Nhịn chay là vật chắn và là điểm phòng ngự kiên cố thoát khỏi hỏa ngục."([13])

 6- Nhịn chay là sự kiềm hảm dục vọng như được ghi lại trong Hadith sau:

عَنْ عَبْدِ اللهِ بِنْ مَسْعُودٍ t قَالَ: لَقَدْ قَالَ لَنَا رَسُولُ اللهِ m: ((يَا مَعْشَرَ الشَّبَابِ مَنِ اسْتَطَاعَ مِنْكُمُ الْبَاءَةَ فَلْيَتَزَوَّجْ، فَإِنَّهُ أَغَضُّ لِلْبَصَرِ، وَأَحْصَنُ لِلْفَرْجِ، وَمَنْ لَمْ يَسْتَطِعْ فَعَلَيْهِ بِالصَّوْمِ فَإِنَّهُ لَهُ وِجَاءٌ)) متفق عليه: البخاري، كتاب الصوم، باب الصوم لمن خاف على نفسه العُزبة، برقم 1905، ومسلم، كتاب النكاح، باب استحباب النكاح لمن تاقت نفسه إليه، ووجد مؤنة، واشتغال من عجز عن المؤنة بالصوم،برقم 1400.

Ông Abdullah bin Mas-u'd t kể: Rosul m đã nói với chúng tôi rằng: "Hỡi các chàng thanh thiếu niên! Ai có khả năng (về tiền tài và sức khỏe) thì hãy thành hôn đi, bởi chính nó sẽ bảo vệ cặp mắt (không nhìn điều Harom tức nhìn vào phụ nữ) và bảo vệ được bộ sinh dục (không quan hệ tình dục bừa bải). Đối với ai không có khả năng thì hãy nhịn chay đi, bởi chính sự nhịn chay là sự kiềm hảm dục vọng kia."([14])

7- Nhịn chay một ngày khi đang thánh chiến vì Allah sẽ được Ngài kéo xa khỏi hỏa ngục khoảng cách bảy mươi năm như được nhắc trong Hadith sau:

عَنْ أَبِي سَعِيد الْخُدْرِي t قَالَ: سَمِعْتُ النَّبِىَّ m يَقُولُ: ((مَنْ صَامَ يَوْماً فِى سَبِيلِ اللهِ بَعَّدَ اللهُ وَجْهَهُ عَنِ النَّارِ سَبْعِينَ خَرِيفاً)) متفق عليه: البخاري، كتاب الجهاد والسير، باب فضل الصوم في سبيل الله، برقم 2840، ومسلم، كتاب الصيام، باب فضل الصيام في سبيل الله لمن يطيقه بلا ضرر ولا تفويت حق، برقم 1153.

Ông Abu Sa-eed Al-Khudry t kể: chính tai tôi đã nghe Nabi m nói rằng: "Ai nhịn chay một ngày trong con đường của Allah sẽ được Ngài kéo mặt của người đó ra xa khỏi hỏa ngục khoảng cách bảy mươi năm."([15])

 8- Nhịn chay một ngày khi đang thánh chiến vì Allah sẽ được Ngài kéo xa khỏi hỏa ngục khoảng cách như trời với đất như được nhắc trong Hadith sau:

عَنْ أَبِى أُمَامَةَ الْبَاهِلِىِّ t عَنِ النَّبِىِّ m قَالَ: ((مَنْ صَامَ يَوْماً فِى سَبِيلِ اللهِ جَعَلَ اللهُ بَيْنَهُ وَبَيْنَ النَّارِ خَنْدَقاً كَمَا بَيْنَ السَّمَاءِ وَالأَرْضِ)) الترمذي، كتاب فضائل، الجهاد، باب فضل الصوم في سبيل الله، برقم 1624، وقال الألباني في صحيح سنن الترمذي، 2/223: ((حسن صحيح) وانظر: سلسلة الأحاديث الصحيحة للألباني، برقم 563.

Ông Abu Amamah Al-Bahily t thuật lại lời Nabi m: "Ai nhịn chay một ngày trong con đường của Allah sẽ được Ngài tạo ra giữa người đó và hỏa ngục một chiến hào rộng lớn như khoảng cách trời đất."([16])

Imam Al-Qur-tu-by phân tích Hadith: "Ai nhịn chay một ngày trong con đường của Allah" tức: trong con đường qui phục thuần phục Ngài nghĩa là định tâm làm vì Allah, có người nói: là thánh chiến vì Allah.([17])

Imam Al-Nawawy nói: "Trong Hadith nói lên ân phước nhịn chay khi đang thánh chính vì Allah nhưng không ảnh hưởng đến sức khỏe, không ảnh hưởng đến nhiệm vụ chinh chiến và không làm mất đi ý nghĩa chiến trường thì sẽ được kéo xa ra khỏi hỏa ngục với khoảng cách bảy mươi năm."([18])

Shaikh Ibnu Baaz nói: "Trong Hadith mang hai ý nghĩa là nhịn chay khi đang thánh chiến như thể hiện trong lời Hadith và nhịn chay qui phục thuần phục Allah."([19])

 9- Nhịn chay là lời di huấn của Nabi  và không gì có thể so sánh đặng với nhịn chay như được nhắc trong Hadith sau:

Ông Abu Amamah t kể: tôi đã nói với Rosul m: Thưa Rosul của Allah! Hãy chỉ tôi một điều mà điều đó giúp ích được cho tôi với Allah. Nabi m bảo:

قَالَ النَّبِىُّ m: ((عَلَيْكَ بِالصَّوْمِ فَإِنَّهُ لَا مِثْلَ لَهُ))

"Anh hãy nhịn chay đi bởi không có gì giống như nhịn chay." Theo đường truyền khác ông Abu Amamah hỏi: việc làm nào tốt đẹp nhất ? Nabi m đáp:

((عَلَيْكَ بِالصَّوْمِ فَإِنَّهُ لَا عِدْلَ لَهُ))

"Anh hãy nhịn chay đi bởi không có gì so sánh bằng nhịn chay."

 10- Nhịn chay được vào thiên đàng bằng cửa Al-Roiyaan như được nhắc trong Hadith sau:

عَنْ سَهْلٍ بِن سَعْدٍ t عَنِ النَّبِىِّ m قَالَ: ((إِنَّ فِى الْجَنَّةِ بَابًا يُقَالُ لَهُ الرَّيَّانُ، يَدْخُلُ مِنْهُ الصَّائِمُونَ يَوْمَ الْقِيَامَةِ، لاَ يَدْخُلُ مِنْهُ أَحَدٌ غَيْرُهُمْ، يُقَالُ أَيْنَ الصَّائِمُونَ فَيَقُومُونَ، لاَ يَدْخُلُ مِنْهُ أَحَدٌ غَيْرُهُمْ، فَإِذَا دَخَلُوا أُغْلِقَ ، فَلَمْ يَدْخُلْ مِنْهُ أَحَدٌ)) متفق عليه: البخاري، كتاب الصوم، باب الريان للصائمين، برقم 1896، ومسلم، كتاب الصيام، باب فضل الصيام، برقم 1152.

Ông Sahl bin Sa'd t thuật lại lời Nabi m: "Quả thật, ở thiên đàng có cửa được gọi là cửa Roiyaan dành riêng cho người nhịn chay bước vào trong ngày tận thế, ngoài họ ra không ai được bước vào. Khi đó có lời bảo: những người nhịn chay đâu rồi họ đều đứng dậy, không một ai khác bước vào cùng họ. Một khi họ đã bước vào hết cửa bị đóng lại không cho một ai vào sau đó."([20])

Theo đường truyền khác cũng do ông Sahl bin Sa'd t thuật lại lời Nabi m:

((فِى الْجَنَّةِ ثَمَانِيَةُ أَبْوَابٍ، فِيهَا بَابٌ يُسَمَّى الرَّيَّانَ لاَ يَدْخُلُهُ إِلاَّ الصَّائِمُونَ)) البخاري، كتاب بدء الخلق، باب صفة أبواب الجنة، برقم 3257.

"Ở thiên đàng gồm có tám cửa có một cửa được gọi là cửa Al-Roiyaan không ai được bước vào ngoại trừ người nhịn chay."([21])

عَنْ أَبِى هُرَيْرَةَ t أَنَّ رَسُولَ اللهِ m قَالَ: ((مَنْ أَنْفَقَ زَوْجَيْنِ فِى سَبِيلِ اللهِ نُودِىَ مِنْ أَبْوَابِ الْجَنَّةِ: يَا عَبْدَ اللهِ، هَذَا خَيْرٌ. فَمَنْ كَانَ مِنْ أَهْلِ الصَّلاَةِ دُعِىَ مِنْ بَابِ الصَّلاَةِ، وَمَنْ كَانَ مِنْ أَهْلِ الْجِهَادِ دُعِىَ مِنْ بَابِ الْجِهَادِ، وَمَنْ كَانَ مِنْ أَهْلِ الصِّيَامِ دُعِىَ مِنْ بَابِ الرَّيَّانِ، وَمَنْ كَانَ مِنْ أَهْلِ الصَّدَقَةِ دُعِىَ مِنْ بَابِ الصَّدَقَةِ)) . فَقَالَ أَبُو بَكْرٍ t بِأَبِى أَنْتَ وَأُمِّى يَا رَسُولَ اللهِِ ، مَا عَلَى مَنْ دُعِىَ مِنْ تِلْكَ الأَبْوَابِ مِنْ ضَرُورَةٍ ، فَهَلْ يُدْعَى أَحَدٌ مِنْ تِلْكَ الأَبْوَابِ كُلِّهَا قَالَ: ((نَعَمْ، وَأَرْجُو أَنْ تَكُونَ مِنْهُمْ)) متفق عليه: البخاري، كتاب الصيام، باب الريَّان للصائمين، برقم 1896، ومسلم، كتاب الزكاة، باب من جمع الصدقة وأعمال البر، برقم 58-(1027).

Ông Abu Huroiroh t thuật lại lời Nabi m: "Ai bố thí hai điều (từ bất cứ tài sản nào) vì con đường chính nghĩa của Allah sẽ được gọi từ các của thiên đàng: hỡi bề tôi của Allah, đây quả là điều tốt. Ai thuộc nhóm người dâng lễ Solah sẽ được gọi đi vào cửa Solah, ai thuộc nhóm người thánh chiến sẽ được gọi đi vào cửa thánh chiến, ai thuộc nhóm người nhịn chay sẽ được gọi đi vào cửa Al-Roiyaan và ai thuộc nhóm người bố thí sẽ được gọi đi vào cửa bố thí." Ông Abu Bakr hỏi: tôi thề bởi Allah chứng giám, thưa Rosul của Allah! có ai được gọi đi vào hết tất cả các cửa thiên đàng đó không? Nabi m đáp: "Có, Ta hy vọng ông là người trong số đó."([22])

 11- Nhịn chay là đặc điểm đầu tiên được vào thiên đàng như được nhắc trong Hadith:

عَنْ أَبِي هُرَيْرَةَ t قَالَ: قَالَ رَسُولُ اللهِ ﷺ‬: ((مَنْ أَصْبَحَ الْيَوْمُ مِنْكُمْ صَائِماً ؟)) قَالَ أَبُو بَكْرٍ t: أَنَا. قَالَ: ((فَمَنِ اتَّبَعَ مِنْكُمُ الْيَوْمَ جَنَازَةَ ؟)) قَالَ أَبُو بَكْرٍ t: أَنَا. قَالَ: ((فَمَنْ أَطْعَمَ مِنْكُمُ الْيَومَ مِسْكِيناً ؟)) قَالَ أَبُو بَكْرٍ t: أَنَا. قَالَ: ((فَمَنْ عَادَ مِنْكُمُ الْيَومَ مَرِيضاً ؟)) قَالَ أَبُو بَكْرٍ t: أَنَا، فَقَالَ رَسُولُ اللهِ ﷺ‬: ((مَا اجْتَمَعْنَ فِي امْرِئٍ إِلَّا دَخَلَ الْجَنَّةَ)) مسلم،كتاب الزكاة، باب فضل من ضمَّ إلى الصدقة غيرها من أنواع البر، برقم 1028.

Ông Abu Huroiroh t thuật lại lời Nabi m: "Hôm nay, ai nhịn chay trong các người ?" ông Abu Bakr t đáp: tôi. Nabi m hỏi tiếp: "Hôm nay, ai trong các người đi theo người chết ?" ông Abu Bakr t đáp: tôi. Nabi m hỏi tiếp: "Hôm nay, ai trong các người bố thí thức ăn cho người nghèo ?" ông Abu Bakr t đáp: tôi. Nabi m hỏi tiếp: "Hôm nay, ai trong các người thăm viếng người bệnh ?" ông Abu Bakr t đáp: tôi. Khi đó Nabi m nói: "Tất cả việc làm này được một người làm sẽ được vào thiên đàng."([23])

Theo đường truyền khác Nabi m nói:

((مَا اجْتَمَعَتْ هَذِهِ الْخِصَالُ فِي رَجُلٍ فِي يَوْمٍ إِلَّا دَخَلَ الْجَنَّةَ)) البخاري في الأدب المفرد، برقم 515، وصححه الألباني في صحيح الأدب المفرد، ص195.

"Bất cứ ai làm được những điều này trong ngày sẽ được vào thiên đàng."([24])

 12- Nhịn chay xóa được tội lỗi như được nhắc trong Hadith:

عَنْ حُذَيْفَةَ t عَن النَّبِيِّ m: ((فِتْنَةُ الرَّجُلِ فِى أَهْلِهِ وَمَالِهِ وَوَلَدِهِ وَجَارِهِ تُكَفِّرُهَا الصَّلاَةُ وَالصَّوْمُ وَالصَّدَقَةُ وَالأَمْرُ وَالنَّهْىُ)) وفي لفظ:((وَالْأَمْرُ بِالْمَعْرُوفِ وَالنَّهْيُ عَنِ الْمُنْكَرِ)) متفق عليه: البخاري، كتاب الصلاة، باب الصلاة كفارة، برقم 525، وكتاب الزكاة، بابٌ: الصدقة تكفر الخطيئة، برقم 1435، وكتاب الصوم، بابٌ: الصوم كفَّارة، برقم 1895، ومسلم، كتاب الإيمان، باب رفع الأمانة والإيمان من بعض القلوب وعرض الفتن على القلوب، برقم 144.

"Ai bị thử thách trong vấn đề gia đình, tài sản, con cái và xóm giềng sẽ được xóa bỏ bởi: lễ Solah, nhịn chay, bố thí, ra lệnh và cấm." Theo đường truyền khác Nabi m nói: "Ra lệnh làm việc thiện và cấm làm điều tội lỗi."([25])

Đây chính là ân phước vĩ đại được Allah ban cho người Muslim khi họ phạm phải thử thách với gia đình, con cái, tài sản, láng giềng sẽ được xóa sạch bởi lễ Solah, bằng sự nhịn chay, bằng sự bố thí bằng cách ra lệnh làm điều thiện và ngăn cản làm điều tội lỗi. Đối với người Muslim cố gắng làm thật nhiều những việc làm này để được hưởng phần thưởng trên nhưng những điều này chỉ xóa được tội lỗi nhỏ thôi còn đại trọng tội và tội lớn bắt buộc phải sám hối theo điều kiện đã qui định.([26])

 13- Người nhịn chay được ban thưởng vô hạn không tính toán.

 14- Người nhịn chay có hai niềm vui: niềm vui ở trần gian và niềm vui ở ngày phán xử.

 15- Tuyến nước bọt của người nhịn chay đối với Allah còn thơm hơn cả mùi thơm tốt nhất của trần gian như được nhắc trong Hadith:

عَن أَبِي هُرَيْرَةَ t قَالَ رَسُولُ اللهِ m: ((قَالَ اللهُ تَعَالَى: كُلُّ عَمَلِ ابْنِ آدَمَ لَهُ إِلاَّ الصِّيَامَ، فَإِنَّهُ لِى وَأَنَا أَجْزِى بِهِ. وَالصَّوْمُ جُنَّةٌ فَإِذَا كَانَ يَوْمُ صَوْمِ أَحَدِكُمْ فَلاَ يَرْفُثْ، وَلاَ يَسْخَبْ، فَإِنْ سَابَّهُ أَحَدٌ أَوْ قَاتَلَهُ فَلْيَقُلْ: إِنِّى امْرُؤٌ صَائِمٌ. وَالَّذِي نَفْسُ مُحَمَّدٍ بِيَدِهِ لَخُلُوفُ فَمِ الصَّائِمِ أَطْيَبُ عِنْدَ اللهِ مِنْ رِيحِ الْمِسْكِ، لِلصَّائِمِ فَرْحَتَانِ يَفْرَحُهُمَا إِذَا أَفْطَرَ فَرِحَ بِفِطْرِهِ وَإِذَا لَقِيَ رَبَّهُ عَزَّ وَجَلَّ فَرِحَ بِصَوْمِهِ))

Ông Abu Huroiroh t thuật lại lời Rosul m: "Allah Đấng Tối Cao phán: tất cả mọi việc làm của con cháu Adam đều là của y ngoại trừ sự nhịn chay, riêng nó là của TA và chính TA sẽ ban thưởng cho nó. Sự nhịn chay là vật chắn, cho nên khi các người nhịn chay thì chớ nói lời dâm dục, cũng chớ gào thét chửi bới. Một khi người nhịn chay bị ai đó chửi hoặc đuổi giết thì hãy nói: Quả thật, tôi đang nhịn chay. Nabi m nói: Ta thề bởi Đấng nắm lấy linh hồn Muhammad Ta là tuyến nước bọt của người nhịn chay đối với Allah thơm hơn cả mùi thơm tốt nhất của trần gian. Đối với người nhịn chay có hai niềm vui: niềm vui khi xả chay và niềm vui khi được trình diện với Thượng Đế Đấng Hùng Mạnh và Cao Quí về sự nhịn chay của mình."

Theo đường truyền khác do Al-Bukhory ghi lại, Nabi m nói:

وفي لفظ للبخاري: ((الصِّيَامُ جُنَّةٌ، فَلا يَرْفُثْ ، وَلا يَجْهَلْ فَإِنِ امْرُؤٌ قَاتَلَهُ، أَوْ شَاتَمَهُ فَلْيَقُلْ: إِنِّي صَائِمٌ إِنِّي صَائِمٌ. وَالَّذِي نَفْسُ مُحَمَّدٍ بِيَدِهِ لَخُلُوفُ فَمِ الصَّائِمِ أَطْيَبُ عِنْدَ اللهِ مِنْ رِيحِ الْمِسْكِ، يَتْرُكُ طَعَامَهُ وَشَرَابَهُ وَشَهْوَتَهُ مِنْ أَجْلِى، الصِّيَامُ لِى، وَأَنَا أَجْزِى بِهِ، وَالْحَسَنَةُ بِعَشْرِ أَمْثَالِهَا))

"Sự nhịn chay là vật chắn cho nên chớ văng tục và có hành động dại dột. Nếu có bị ai đuổi giết hoặc bị chửi mắng thì hãy nói: Quả thật tôi đang nhịn chay, quả thật tôi đang nhịn chay. Ta thề bởi Đấng nắm lấy linh hồn Muhammad Ta là tuyến nước bọt của người nhịn chay đối với Allah còn thơm hơn cả mùi thơm nhất của trần gian, y đã bỏ thức ăn thức uống và dục vọng của mình vì TA (Allah), sự nhịn chay là của riêng TA, chính TA sẽ ban thưởng cho nó và cứ mỗi việc tốt được nhân lên mười lần."

Theo đường truyền khác do Muslim ghi lại, Nabi m nói:

وفي لفظ لمسلم: ((كُلُّ عَمَلِ ابْنِ آدَمَ يُضَاعَفُ لَهُ: الْحَسَنَةُ بِعَشْرِ أَمْثَالِهَا إِلَى سَبْعِ مِائَةِ ضِعْفٍ. قَالَ اللهُ ﷻ‬: إِلَّا الصَّوْمَ فَإِنَّهُ لِي وَأَنَا أَجْزِي بِهِ، يَدَعُ شَهْوَتَهُ وَطَعَامَهَ مِنْ أَجْلِي، لِلصَّائِمِ فَرْحَتَانِ: فَرْحَةٌ عِنْدَ فِطْرِهِ، وَفَرْحَةٌ عِنْدَ لِقَاءِ رَبِّهِ، وَلَخُلُوفٌ فِيْهِ أَطْيَبُ عِنْدَ اللهِ مِنْ رِيْحِ الْمِسْكِ)) متفق عليه: البخاري، كتاب الصوم، باب فضل الصوم، برقم 1894، وباب هل يقول: إني صائم إذ اشتم، برقم 1904، ومسلم، كتاب الصيام، باب حفظ اللسان للصائم برقم 1151، وباب فضل الصيام برقم 164- (1151).

"Tất cả mỗi việc làm (thiện) của con cháu Adam được nhân lên từ mười đến bảy trăm lần. Allah Đấng Hùng Mạnh & Cao Quí phán: ngoại trừ sự nhịn chay riêng nó là của TA, chỉ có TA mới ban thưởng cho nó bởi y đã bỏ đi dục vọng, thức ăn vì TA. Người nhịn chay có được hai niềm vui: niềm vui khi xả chay và niềm vui khi trình diện Thượng Đế y và là tuyến nước bọt của người nhịn chay đối với Allah còn thơm hơn cả mùi thơm nhất của trần gian."([27])([28])

 16- Sự nhịn chay và Qur'an là hai nhân chứng biện hộ cho chủ nó vào ngày phán xử như được nhắc trong Hadith sau:

عَنْ عَبْدِ اللهِ بْنِ عَمْرٍو t أَنَّ رَسُولَ اللهِ m قَالَ: ((الصِّيَامُ وَالْقُرْآنُ يَشْفَعَانِ لِلْعَبْدِ يَوْمَ الْقِيَامَةِ. يَقُولُ الصِّيَامُ: أَىْ رَبِّ مَنَعْتُهُ الطَّعَامَ وَالشَّهَوَاتِ بِالنَّهَارِ فَشَفِّعْنِى فِيهِ. وَيَقُولُ الْقُرْآنُ مَنَعْتُهُ النَّوْمَ بِاللَّيْلِ فَشَفِّعْنِى فِيهِ.)) قَالَ ((فَيُشَفَّعَانِ)) أحمد في المسند، 2/174، والحاكم، 1/554، وقال الألباني في صحيح الترغيب والترهيب، 1/579 :((حسن  صحيح)).

Ông Abdullah bin A'mr t thuật lại lời Nabi m: "Nhịn chay và Qur'an sẽ biện hộ cho bề tôi vào ngày phán xử. Sự nhịn chay trình: Thưa Thượng Đế bề tôi, bề tôi đã cấm người này ăn và dục vọng vào ban ngày, xin hãy xem xét lại cho y, còn Qur'an thì trình: bề tôi đã ngăn cản không cho y ngủ vào ban đêm, xin hãy xem xét lại cho y." Nabi m nói tiếp: "Hai nhân chứng này luôn biện hộ."([29])

 17- Nhịn chay chữa được bệnh ranh tỵ, đố kỵ, kỳ thị và sự quấy nhiễu trong tim như được nhắc trong Hadith sau:

عَنْ عَبْدِ اللهِ بْنِ عَبَّاسٍ k عَن النَّبِيِّ m أَنَّهُ قَالَ: ((صَوْمُ شَهْرِ الصَّبْرِ وَثَلاَثَةِ أَيَّامٍ مِنْ كُلِّ شَهْرٍ يُذْهِبْنَ وَحَرَ الصَّدْرِ)) أخرجه أحمد، 38/168، برقم 3070، ورقم 23077، و34/240، برقم 20737.

Ông Abdullah bin Abbaas k thuật lại lời Nabi m: "Ai nhịn chay vào tháng kiên nhẫn (tức Romadon) và nhịn ba ngày trong mỗi tháng sẽ xua đuổi được sự nóng nãy trong lồng ngực."([30])

 18- Nhịn chay là trong những ngưỡng cửa tốt đẹp như được nhắc trong Hadith sau:

عَن مُعَاذ بِنْ جَبَلٍ t أَنَّ النَّبِيَّ m قَالَ لَهُ: ((أَلا أَدُلُّكَ عَلَى أَبْوَابِ الْخَيْرِ؟)) قُلْتُ: بَلَى، يَا رَسُولَ اللهِ. قَالَ: ((الصَّوْمُ جُنَّةٌ، وَالصَّدَقَةُ تُطْفِئُ الْخَطِيئَةَ كَمَا يُطْفِئُ الْمَاءُ النَّارَ ، وَصَلاةُ الرَّجُلِ مِنْ جَوْفِ اللَّيْلِ)) ثُمَّ تَلَا:

(تَتَجَافَىٰ جُنُوبُهُمْ عَنِ الْمَضَاجِعِ يَدْعُونَ رَبَّهُمْ خَوْفًا وَطَمَعًا وَمِمَّا رَزَقْنَاهُمْ يُنفِقُونَ  فَلَا تَعْلَمُ نَفْسٌ مَّا أُخْفِيَ لَهُم مِّن قُرَّةِ أَعْيُنٍ جَزَاءً بِمَا كَانُوا يَعْمَلُونَ ) السجدة: ١٦ – ١٧.

الترمذي، كتاب الإيمان، باب ما جاء في حرمة الصلاة، برقم 2616، وقال الألباني في صحيح الترغيب والترهيب، 1/578: ((صحيح لغيره )).

Ông Mu-a'z bin Jabal t thuật lại lời Nabi m đã nói với ông: "Chẳng lẽ anh không muốn Ta chỉ cho anh những ngưỡng cửa tốt đẹp hay sao?" Tôi đáp: muốn, thưa Rosul. Nabi m tiếp: "Nhịn chay là vật chắn, sự bố thí xóa đi tội lỗi giống như nước dập tắt lửa và lễ Solah của con người trong đêm." Kế tiếp Người đọc câu kinh: {Họ rời khỏi giường ngủ (để) cầu nguyện Thượng Đế của họ vừa lo sợ vừa hy vọng (nơi lòng khoan dung của Ngài) và chi dùng tài sản mà TA đã cung cấp cho họ để làm việc thiện * Không có một người nào biết được nỗi vui sướng đã được giấu kín dùng làm phần thưởng cho họ về những việc thiện mà họ đã từng làm (trên thế gian)} Al-Sajadah: 16 – 17.([31])

 19- Ai kết thúc cuộc đời bằng sự nhịn chay với định tâm chỉ vì Allah sẽ được Allah ban cho vào thiên đàng như được nhắc trong Hadith sau:

عَنْ حُذَيْفَةَ t قَالَ: أَسْنَدْتُ النَّبِىَّ m إِلَى صَدْرِى، فَقَالَ: ((مَنْ قَالَ لَا إِلَـٰهَ إِلَّا اللهُ ابْتِغَاءَ وَجْهِ اللهِ، خُتِمَ لَهُ بِهَا دَخَلَ الْجَنَّةَ، وَمَنْ صَامَ يَوْمًا ابْتِغَاءَ وَجْهِ اللهِ، خُتِمَ لَهُ بِهَا دَخَلَ الْجَنَّةَ، وَمَنْ تَصَدَّقَ بِصَدَقَةٍ ابْتِغَاءَ وَجْهِ اللهِ خُتِمَ لَهُ بِهَا دَخَلَ الْجَنَّةَ.)) أحمد، 5/391، وفي المحقق 38/350، برقم 23324، وقال محققو المسند: ((صحيح لغيره ))، وصححه الألباني في صحيح الترغيب والترهيب، 1/579.

Ông Mu-a'z bin Jabal t thuật lại lời Nabi m: "Ai nói: La i la ha il lol loh (không có Thượng Đế nào xứng đáng được thờ phụng ngoại trừ Allah) với định tâm làm hài lòng Allah rồi bị chết sau lời nói đó sẽ được Allah ban cho vào thiên đàng, ai nhịn chay một ngày với định tâm làm hài lòng Allah rồi bị chết sau đó sẽ được Allah ban cho vào thiên đàng và ai bố thí để làm hai lòng Allah rồi bị chết sau đó sẽ được Allah ban cho vào thiên đàng."([32])

عَنْ عَبْدِ اللهِ بْنِ مَسْعُودٍ t قَالَ فِي حَدِيْثِ الْقَدْرِ عَنِ النَّبِيِّ m وَفِيْهِ: ((... وَإِنَّ أَحَدَكُمْ لَيَعْمَلُ بِعَمَلِ أَهْلِ النَّارِ حَتَّى مَا يَكُونَ بَيْنَهُ وَبَيْنَهَا إِلَّا ذِرَاعٌ ثُمَّ يَسْبِقُ عَلَيْهِ الْكِتَابُ فَيَعْمَلُ بِعَمَلِ أَهْلِ الْجَنَّةِ فَيَدْخُلُهَا)) رواه البخاري كتاب: بدء الخلق، باب: ذكر الملائكة حديث (3208) ومسلم كتاب: القدر، باب: كيفية خلق الآدمي في بطن أمه وكتابة رزقه وأجله وعمله وشقاوته وسعادته (1، 2643).

Ông Abdullah bin Mas-u'd t kể về Hadith định mệnh do Nabi m đã nói: "... và mỗi người trong các người luôn làm hành động của nhóm người hỏa ngục cho đến khi (cái chết) cách y khoảng một cánh tay thì quyển sổ định mệnh đã định là y phải làm hành động của nhóm người thiên đàng rồi bước vào thiên đàng."([33])

Theo đường truyền khác do Ahmad ghi lại, Nabi m nói:

((... وَإِنَّ الرَّجُلَ لَيَعْمَلُ بِعَمَلِ أَهْلِ النَّارِ حَتَّى مَا يَكُونُ بَيْنَهُ وَبَيْنَهَا إِلاَّ ذِرَاعٌ فَيَسْبِقُ عَلَيْهِ الْكِتَابُ فَيُخْتَمُ لَهُ بِعَمَلِ أَهْلِ الْجَنَّةِ فَيَدْخُلُهَا)) أحمد 6/125، برقم 3624 (المحقق).

"... và quả thật, trong các người có người chuyên làm việc làm của những người hỏa ngục đến khi cái chết chỉ còn cách y khoảng cánh tay nhưng trong quyển sách định mệnh đã định là y sẽ làm việc làm của người thiên đàng rồi y làm nó và bị chết ngay sau hành động đó thế là được vào thiên đàng."([34])  

 20- Allah đã chuẩn bị sẵn những căn phòng cao đẹp ở thiên đàng dành cho những ai thường xuyên nhịn chay theo khuôn khổ giáo lý Islam cho phép,

 cho những ai bố thí thức ăn cho người nghèo, cho ai nói chuyện thật tế nhị lịch sự, cho ai luôn chào hỏi Salam và cho những ai dâng lễ Solah ban đêm lúc mọi người đang say sưa ngủ như được nhắc trong Hadith sau:

عَنْ أَبِي مَالِكٍ الأَشْعَرِيُّ t عَنِ النَّبِيِّ m أَنَّهُ قَالَ : ((إِنَّ فِي الْجَنَّةِ غُرَفًا يُرَى ظَاهِرُهَا مِنْ بَاطِنِهَا، وَبَاطِنُهَا مِنْ ظَاهِرِهَا، أَعَدَّهَا اللهُ عَزَّ وَجَلَّ لِمَنْ أَطْعَمَ الطَّعَامَ، وَأَلَانَ الْكَلَامَ، وَتَابَعَ الصِّيَامَ، وَأَفْشَى السَّلَامَ، وَصَلَّى بِاللَّيْلِ وَالنَّاسُ نِيَامٌ)) أحمد في المسند، 5/343، وابن حبان (موارد) برقم 641، والترمذي عن علي t، في كتاب صفة الجنة، باب ما جاء في صفة غرف الجنة، برقم 2527، وحسنه الألباني في صحيح الترمذي، 3/7. وفي صحيح الجامع، 2/220، برقم 2119.

Ông Abu Malik Al-Ash-a'-ry t thuật lại lời Nabi m: "Quả thật, ở thiên đàng có rất nhiều phòng ở ngoài nhìn thấy vào trong và ở trong nhìn thấy ra ngoài, Allah chuẩn bị dành cho ai bố thí thức ăn, nói năn tế nhị lịch sự, thường xuyên nhịn chay, thường chào hỏi Salam và dâng lễ Solah trong đêm lúc mọi người say sưa ngủ."([35])  

Bất cứ ai làm những hành động như được liệt kê trên đều được thưởng những căn phòng cao sang, sạch sẽ, trong suốt như thế. Bởi những tính cách cư xử tốt đẹp với mọi người, nói năn lịch sự tế nhị là đức tính của các bề tôi của Đấng Al-Rohman, họ đi đứng rất khiêm nhường và khi đối diện với người dốt nát thì họ đáp lời Salam (bình an), ngoài ra những căn phòng này còn dành cho những ai nuôi ăn gia đình họ, người nghèo, khách viếng thăm..., dành cho những ai thường xuyên nhịn chay Sunnah (khuyến khích) hoặc ít gì cũng ba ngày trong mỗi tháng, và dành cho những ai dâng lễ Solah trong đêm khi mọi người đã yên giấc ngủ ngon hoặc họ không để tâm đến y đang làm gì. Bởi việc làm trong đêm khi mọi người đang ngủ sẽ tránh được sự phô trương khoe khoang và khẳng định được là sự thành tâm đã đến cấp bậc cao nhất và cả cho những ai thường chào hỏi lời Salam (bình an) cho những ai quen biết hay không quen biết. Tóm lại, Hadith khuyến khích người Muslim thi hành những hành động này để được hưởng những căn phòng sang trọng kia.([36])

 21- Lời cầu xin của người nhịn chay không bị khước từ cho đến khi xả chay như được nhắc trong Hadith sau:

عَنْ أَبِي هُرَيْرَةَ t قَالَ: قَالَ رَسُولُ اللهِ m: ((ثَلاَثَةٌ لاَ تُرَدُّ دَعْوَتُهُمُ: الإِمَامُ الْعَادِلُ، وَالصَّائِمُ حَتَّى يُفْطِرَ، وَدَعْوَةُ الْمَظْلُومِ يَرْفَعُهَا اللهُ فَوْقَ الْغَمَامِ وَيَفْتَحُ لَهَا أَبْوَابَ السَّمَاءِ، وَيَقُولُ الرَّبُّ: وَعِزَّتِى لأَنْصُرَنَّكَ وَلَوْ بَعْدَ حِينٍ)) ابن ماجه، كتاب الصيام، بابٌ: في الصائم لا تردُّ دعوته، برقم 1752، والترمذي، كتاب الدعوات، باب سبق المفردون، برقم 3598، وكتاب صفة الجنة مطولاً برقم 2526، و أحمد برقم 9743، 15/463، وأخرجه أحمد مطولاً 13/410، برقم 8043، وصححه الألباني في صحيح ابن ماجه، 2/86، وكلهم بلفظ: ((والصائم حتى يفطر...)) إلا في سنن الترمذي طبعة دار السلام فقال في موضعين: رقم 2526، ورقم 3598:  ((...حين يفطر ))، أما في النسخة التي حققها أحمد شاكر، فلفظها في حديث رقم 2526: (( حين يفطر ))، وفي حديث رقم 3598 ((حتى يفطر )).

Ông Abu Huroiroh t thuật lại lời Nabi m: "Có ba loại người lời cầu xin của họ không bị khước từ: vị thủ lãnh công bằng liêm chính, người nhịn chay đến khi xảy chay và lời cầu xin của người bị đối xử bất công. Allah sẽ nâng lời cầu xin lên bằng mây và mở các cửa của thiên đàng để đón tiếp, Thượng Đế phán bảo: Thề bởi sự hùng mạnh của TA chắc chắn TA sẽ giúp đỡ cho ngươi cho dù có trể."([37])

 22- Lời cầu xin của người nhịn chay không bị khước từ ngay lúc xả chay như được nhắc trong Hadith sau:

عَنْ عَبْدِ اللهِ بْن أَبِى مُلَيْكَةَ قَالَ: سَمِعْتُ عَبْدَ اللهِ بْنَ عَمْرِو بْنِ الْعَاصِ t يَقُولُ: قَالَ رَسُولُ اللهِ m: ((إِنَّ لِلصَّائِمِ عِنْدَ فِطْرِهِ لَدَعْوَةً مَا تُرَدُّ)). قَالَ ابْنُ أَبِى مُلَيْكَةَ: سَمِعْتُ عَبْدَ اللهِ بْنَ عَمْرٍو يَقُولُ إِذَا أَفْطَرَ: ((اللهُمَّ إِنِّى أَسْأَلُكَ بِرَحْمَتِكَ الَّتِى وَسِعَتْ كُلَّ شَىْءٍ أَنْ تَغْفِرَ لِى)) ابن ماجه، كتاب الصيام، باب في الصائم لا تردُّ دعوته، برقم 1753، والحاكم، 1/422، و قد حسنه ابن حجر في الفتوحات الربانية، 4/342، وحسنه الألباني في صحيح الجامع برقم 4554، وفي مشكاة المصابيح برقم 1993، ولكنه ضعفه في إرواء الغليل برقم 921، وفي ضعيف سنن ابن ماجه ص 137.

Ông Abdullah bin Abi Mulaikah kể: tôi đã nghe được Abdullah bin A'mr bin Al-O's t thuật lại lời Nabi m: "Quả thật, ngay lúc xả chay lời cầu xin của người nhịn chay không bị khước từ." Ông Ibnu Abi Mulaikah kể: tôi đã nghe được Abdullah bin A'mr bin O's t nói khi xả chay:

((اللهُمَّ إِنِّى أَسْأَلُكَ بِرَحْمَتِكَ الَّتِى وَسِعَتْ كُلَّ شَىْءٍ أَنْ تَغْفِرَ لِى))

Ol lo hum ma in ny as a lu ka bi roh ma ti kal la ty va si a't kul la shai in anh tứ fi ro ly

(Ý nghĩa: thưa Allah bề tôi cầu xin Ngài bởi sự từ bi độ lượng rất bao la của Ngài, xin hãy tha thứ cho bề tôi)([38]

Có Hadith khác Nabi ﷺ‬ nói:

عَن أَبِي أَمَامَةَ t عَنِ النِّبِيِّ ﷺ‬: ((إِنَّ لِلهِ عَنْدَ كُلِّ فِطْرٍ عُتَقَاءَ)) مسند أحمد، برقم 22202، قال محققو المسند، 36/539: (( صحيح لغيره )).

Ông Abu Amamah t thuật lại lời Nabi ﷺ‬: "Quả thật, Allah cứu số lượng người khỏi hỏa ngục ngay khi xả chay."([39])    

 23- Cho thức ăn người nhịn chay khi xả chay được ân phước rất lớn như được nhắc trong Hadith:

عَنْ زَيْدٍ بْن خَالِدٍ الْجُهَنِيّ t قَالَ: قَالَ رَسُولُ اللهِ m: ((مَنْ فَطَّرَ صَائِمًا كَانَ لَهُ مِثْلُ أَجْرِهِ وَلا يَنْقُصُ مِنْ أَجْرِهِ شَيْءٌ)) الترمذي، كتاب الصوم، باب ما جاء في فضل من فطر صائماً، برقم 807، وابن ماجه، كتاب الصيام، باب في ثواب من فطر صائمًا، برقم 1746، وصححه الألباني في صحيح سنن الترمذي، 1/424.

Ông Zaid bin Kholid Al-Juhany t thuật lại lời Nabi m: "Ai cho thức ăn xả chay cho người nhịn khi xả chay sẽ được ân phước giống như người nhịn và ân phước đó không bị thiếu xót điều gì cả."([40])  

 24- Với phần thưởng bao la của sự nhịn chay nên Allah đã dùng nó xóa đi bao tội lỗi khác như sau:

 a) Chuộc tội cạo đầu do nấm bệnh trước giờ được phép khi làm Haj như Allah đã phán:

قال تعالى :           (وَلَا تَحْلِقُوا رُءُوسَكُمْ حَتَّىٰ يَبْلُغَ الْهَدْيُ مَحِلَّهُ ۚ فَمَن كَانَ مِنكُم مَّرِيضًا أَوْ بِهِ أَذًى مِّن رَّأْسِهِ فَفِدْيَةٌ مِّن صِيَامٍ أَوْ صَدَقَةٍ أَوْ نُسُكٍ ) البقرة: ١٩٦

{Và các người không được phép cạo đầu (khi làm Haji) cho đến khi con vật tế đã được đến chỗ giết tế. Nhưng đối với ai trong các người bị bệnh hoặc bị nấm da đầu (cần phải cạo) thì phải chịu phạt bằng cách nhịn chay hoặc bố thí (cho người nghèo) hoặc giết tế một con vật).} Al-Baqoroh: 196.

 b) Ai không có vật giết tế khi làm Haj Al-Ta-mad-tụa hoặc Haj Qiron thì nhịn chay chuộc tội 10 ngày:

ba ngày trong thời gian làm Haj và bảy ngày sau khi trở về nhà như được Allah phán:

قال تعالى :       (فَإِذَا أَمِنتُمْ فَمَن تَمَتَّعَ بِالْعُمْرَةِ إِلَى الْحَجِّ فَمَا اسْتَيْسَرَ مِنَ الْهَدْيِ ۚ فَمَن لَّمْ يَجِدْ فَصِيَامُ ثَلَاثَةِ أَيَّامٍ فِي الْحَجِّ وَسَبْعَةٍ إِذَا رَجَعْتُمْ ۗ تِلْكَ عَشَرَةٌ كَامِلَةٌ ۗ ذَٰلِكَ لِمَن لَّمْ يَكُنْ أَهْلُهُ حَاضِرِي الْمَسْجِدِ الْحَرَامِ ۚ  ) البقرة: ١٩٦

{Đối với ai muốn tiếp tục làm Umroh rồi đến Haj (tức làm Haj Al-Ta-mad-tụa hoặc Haj Qiron) thì phải dâng một con vật tế nếu có khả năng. Nhưng ai không có khả năng (dâng một con vật tế) thì phải nhịn chay ba ngày trong thời gian làm Haj và bảy ngày sau khi trở về nhà, như vậy là đủ mười ngày hoàn chỉnh. Đấy là điều kiện dành cho người nào mà gia đình không ở trong vùng đất linh thiêng Makkah.} Al-Baqoroh: 196.

 c) Chuộc tội lỡ giết người như Allah đã phán:

قال تعالى :     ( وَإِن كَانَ مِن قَوْمٍ بَيْنَكُمْ وَبَيْنَهُم مِّيثَاقٌ فَدِيَةٌ مُّسَلَّمَةٌ إِلَىٰ أَهْلِهِ وَتَحْرِيرُ رَقَبَةٍ مُّؤْمِنَةٍ ۖ فَمَن لَّمْ يَجِدْ فَصِيَامُ شَهْرَيْنِ مُتَتَابِعَيْنِ تَوْبَةً مِّنَ اللَّهِ ۗ وَكَانَ اللَّهُ عَلِيمًا حَكِيمًا)  النساء: ٩٢

{Nhưng nếu nạn nhân là người thuộc đám dân mà các người đã ký một hiệp ước (hòa bình) với họ thì phải trả cho gia đình của nạn nhân tiền bồi thường nhân mạng cùng với việc phóng thích một nô lệ có đức tin. Còn đối với phạm nhân nào không có phương tiện để bồi thường thì phải nhịn chay hai tháng liên tiếp sám hối tạ tội với Allah. Chắc chắn Allah hằng biết rất mực sáng suốt.} Al-Nisa: 92.

 d) Chuộc tội đã phạm lời thề như Allah đã phán:

قال تعالى :  (لَا يُؤَاخِذُكُمُ اللَّهُ بِاللَّغْوِ فِي أَيْمَانِكُمْ وَلَٰكِن يُؤَاخِذُكُم بِمَا عَقَّدتُّمُ الْأَيْمَانَ ۖ فَكَفَّارَتُهُ إِطْعَامُ عَشَرَةِ مَسَاكِينَ مِنْ أَوْسَطِ مَا تُطْعِمُونَ أَهْلِيكُمْ أَوْ كِسْوَتُهُمْ أَوْ تَحْرِيرُ رَقَبَةٍ ۖ فَمَن لَّمْ يَجِدْ فَصِيَامُ ثَلَاثَةِ أَيَّامٍ ۚ ذَٰلِكَ كَفَّارَةُ أَيْمَانِكُمْ إِذَا حَلَفْتُمْ ۚ وَاحْفَظُوا أَيْمَانَكُمْ ۚ كَذَٰلِكَ يُبَيِّنُ اللَّهُ لَكُمْ آيَاتِهِ لَعَلَّكُمْ تَشْكُرُونَ ) المائدة: ٨٩

{Allah sẽ không bắt phạt các người về những lời thề xuông trống rỗng, ngược lại Ngài sẽ bắt các người về các lời thề trịnh trọng. Để chuộc lại tội phạm lời thề đó các người phải nuôi ăn mười người nghèo theo cân lượng trung bình mà các người dùng để nuôi gia đình hoặc phải cho quần áo cho mười người hoặc phải phóng thích một người nô lệ. Đối với ai không có khả năng thì phải nhịn chay ba ngày liên tục. Đó là cách chuộc tội cho các lời thề trịnh trọng mà các người đã phạm. Hãy coi chừng lời thề của các người.} Al-Ma-i-dah: 89.

 e) Chuộc tội vì đã săn thú khi đang làm Haj như Allah phán:

قال تعالى :        )يَا أَيُّهَا الَّذِينَ آمَنُوا لَا تَقْتُلُوا الصَّيْدَ وَأَنتُمْ حُرُمٌ ۚ وَمَن قَتَلَهُ مِنكُم مُّتَعَمِّدًا فَجَزَاءٌ مِّثْلُ مَا قَتَلَ مِنَ النَّعَمِ يَحْكُمُ بِهِ ذَوَا عَدْلٍ مِّنكُمْ هَدْيًا بَالِغَ الْكَعْبَةِ أَوْ كَفَّارَةٌ طَعَامُ مَسَاكِينَ أَوْ عَدْلُ ذَٰلِكَ صِيَامًا لِّيَذُوقَ وَبَالَ أَمْرِهِ ۗ عَفَا اللَّهُ عَمَّا سَلَفَ ۚ وَمَنْ عَادَ فَيَنتَقِمُ اللَّهُ مِنْهُ ۗ وَاللَّهُ عَزِيزٌ ذُو انتِقَامٍ )    المائدة: ٩٥

{Hỡi những người có đức tin! Chớ giết thú săn trong lúc các người đang trong tình trạng hãm mình làm Haj. Và nếu ai trong các người cố ý giết thú săn thì phải đền một con thú nuôi trong đàn súc vật tương đương như thú săn đã bị giết, dưới giám sát của hai người công minh trong các người và phải được dắt đến Ka'bah để giết tế hoặc có thể chuộc tội bằng cách bố thí thức ăn cho những người nghèo hoặc bằng cách nhịn chay tương đương với việc nuôi ăn đó mục đích để cho hắn nếm mùi phạt đền. Khi các người làm thế Allah sẽ lượng thứ về việc đã qua nhưng ai tái phạm thì sẽ bị Allah trừng phạt bởi vì Allah toàn năng nắm trọn việc phạt đền.} Al-Ma-i-dah: 95.

 f) Chuộc tội Al-Dhi-haar (là thôi vợ bằng câu: Mày đối với tao như cái lưng của mẹ tao): như Allah đã phán:

قال تعالى :       (وَالَّذِينَ يُظَاهِرُونَ مِن نِّسَائِهِمْ ثُمَّ يَعُودُونَ لِمَا قَالُوا فَتَحْرِيرُ رَقَبَةٍ مِّن قَبْلِ أَن يَتَمَاسَّا ۚ ذَٰلِكُمْ تُوعَظُونَ بِهِ ۚ وَاللَّهُ بِمَا تَعْمَلُونَ خَبِيرٌ  فَمَن لَّمْ يَجِدْ فَصِيَامُ شَهْرَيْنِ مُتَتَابِعَيْنِ مِن قَبْلِ أَن يَتَمَاسَّا ۖ فَمَن لَّمْ يَسْتَطِعْ فَإِطْعَامُ سِتِّينَ مِسْكِينًا ۚ ذَٰلِكَ لِتُؤْمِنُوا بِاللَّهِ وَرَسُولِهِ ۚ وَتِلْكَ حُدُودُ اللَّهِ ۗ وَلِلْكَافِرِينَ عَذَابٌ أَلِيمٌ المجادلة: ٣ - ٤

{Và những ai thôi vợ theo lối Al-Dhi-haar rồi muốn rút lại lời mình tuyên bố thì phải chịu phạt bằng cách phóng thích một nô lệ trước khi hai người trở lại ăn nằm với nhau. Đó là lời cảnh cáo về việc đó. Và Allah rất mực am tường về mọi điều các người đã làm * Nhưng ai không có khả năng thì phải nhịn chay suốt hai tháng liên tục trước khi hai người trở lại ăn nằm với nhau. Nếu ai không có khả năng nhịn chay thì phải nuôi ăn sáu mươi người nghèo. Làm thế để chứng tỏ các người đã tin tưởng Allah và Rosul của Ngài. Và đó cũng là giới luật do Allah qui định, đối với những kẻ vô đức tin sẽ bị trừng phạt rất đau đớn.} Al-Mujadalah: 3 – 4.

 Thứ ba: Lợi ích và ý nghĩa vĩ đại của nhịn chay.

Nhịn chay có rất nhiều lợi ích và ý nghĩa cao quí như sau:

1- Nhịn chay làm con người biết kính sợ Allah, bởi con người tự kềm hãm không dùng thực phẩm Halal (được phép) là để làm hài lòng Allah và sợ hãi hình phạt đau đớn của Ngài. Do đó, chắc chắn người nhịn chay sẽ kềm hãm bản thân không phạm điều Harom (bị cấm). Từ đó làm cho người Muslim biết kính sợ Allah như được phán trong Qur'an:

قال تعالى :       )يَا أَيُّهَا الَّذِينَ آمَنُوا كُتِبَ عَلَيْكُمُ الصِّيَامُ كَمَا كُتِبَ عَلَى الَّذِينَ مِن قَبْلِكُمْ لَعَلَّكُمْ تَتَّقُونَ (البقرة: ١٨٣

{Hỡi những người có đức tin! (Allah) đã truyền xuống sự nhịn chay bắt buộc các người cũng như những thế hệ trước các người phải nhịn hồng trở thành người biết kính sợ (TA)} Al-Baqoroh: 183.

Và vì Nabi m đã nói:

قَالَ g: ((مَنْ لَمْ يَدَعْ قَوْلَ الزُّورِ وَالْعَمَلَ بِهِ وَالْجَهْلَ، فَلَيْسَ لِلهِ حَاجَةٌ فِي أَنْ يَدَعَ طَعَامَهُ وَشَرَابَهُ)) أخرجه البخاري، كتاب الصوم، بابُ من لم يدع قول الزور والعمل به في الصوم، برقم 1903.

"Ai không bỏ đi lời dối trá, ngược lại còn lường gạt và làm điều dại dột thì chắc chắn Allah sẽ không cần đến điều bỏ ăn bỏ uống của y."([41])

2- Nhịn chay là cách tạ ơn Allah với mọi hồng ân đã ban, bởi một khi con người kềm chế không ăn, không uống và sử dụng những điều làm hư sự nhịn chay là để hưởng bổng lộc khác cao sang hơn, bởi kềm chế không sử dụng những hồng ân này trong thời gian nhất định để biết được giá trị của hồng ân đó quan trọng với con người ra sao nhưng không biết được giá trị đó đến khi bị mất đi hồng ân kia. Nhờ đó mà con người mới biết tạ ơn Allah khi được phép ăn uống tự do trở lại, trong Qur'an sau khi kể về sự nhịn chay Allah phán:

قال تعالى :       )ولَعَلَّكُمْ تَشْكُرُونَ ) البقرة: ١٨٥

{Và mong rằng qua đó các người biết tạ ơn TA} Al-Baqoroh: 184.

3- Nhịn chay kềm hãm được dục vọng thấp hèn, bởi một khi cơ thể đã no nê sẽ thúc đẩy dục phát triển còn khi đó sẽ hạ thấp được tất cả, vì vậy mà Nabi m đã nói:

عَنْ عَبْدِ اللهِ بِنْ مَسْعُودٍ t قَالَ: لَقَدْ قَالَ لَنَا رَسُولُ اللهِ m: ((يَا مَعْشَرَ الشَّبَابِ مَنِ اسْتَطَاعَ مِنْكُمُ الْبَاءَةَ فَلْيَتَزَوَّجْ، فَإِنَّهُ أَغَضُّ لِلْبَصَرِ، وَأَحْصَنُ لِلْفَرْجِ، وَمَنْ لَمْ يَسْتَطِعْ فَعَلَيْهِ بِالصَّوْمِ فَإِنَّهُ لَهُ وِجَاءٌ)) متفق عليه: البخاري، كتاب الصوم، باب الصوم لمن خاف على نفسه العُزبة، برقم 1905، ومسلم، كتاب النكاح، باب استحباب النكاح لمن تاقت نفسه إليه، ووجد مؤنة، واشتغال من عجز عن المؤنة بالصوم،برقم 1400.

Ông Abdullah bin Mas-u'd t kể: Rosul m đã nói với chúng tôi rằng: "Hỡi các chàng thanh thiếu niên! Ai có khả năng (về tiền tài và sức khỏe) thì hãy thành hôn đi, bởi chính nó sẽ bảo vệ cặp mắt (không nhìn điều Harom tức nhìn vào phụ nữ) và bảo vệ được bộ sinh dục (không quan hệ tình dục bừa bải). Đối với ai không có khả năng thì hãy nhịn chay đi, bởi chính sự nhịn chay là sự kiềm hảm dục vọng kia."([42]) Vì vậy, nhịn chay là lý do giúp con người không phạm tội.([43]

4- Nhịn chay làm cho đầu óc khỏi suy nghĩ bâng vơ, bởi khi đã đầy bao tử sẽ nghĩ đến nhiều việc làm sai trái khác đôi khi làm cho con tim bị mù không biết được trắng đen, đúng sai.

5- Nhờ nhịn chay người giàu sang mới biết được đây chính là hồng ân Allah ban cho họ bởi có vô số người không được hưởng ân phúc thức ăn, thức uống.

6- Nhịn chay giúp rèn luyện cơ thể kềm chế được bản thân rồi khống chế bản thân làm theo ý muốn để trở thành người Muslim hạnh phúc nhất của trần gian và ngày sau.

7- Nhịn chay làm cho bản thân tránh được sự kiêu cang, cao ngạo.

8- Nhịn chay giúp biết cảm thông thương yêu người nghèo, người khó khăn, bởi khi có đói khát như thế mới biết được những người nghèo không gì ăn uống từ đó mới sẵn sàng giúp đỡ họ về tiền tài lẫn thức ăn. Để bù lại họ được Allah ban thưởng cho họ rất trọng hậu.

9- Nhịn chay có phần phù hợp với hoàn cảnh người nghèo, từ đó Allah nâng cao địa vị của người nhịn chay.

10- Nhịn chay làm cho mạch máu trở nên eo hẹp vì lý do đói khát và mạch máu eo hẹp đồng nghĩa làm cho con đường di chuyển của Shayton (ma quỷ) khó khăn hơn bởi mạch máu của con cháu Adam là đường đi của Shayton như được dẫn chứng qua Hadith sau:

قَالَ g: ((إِنَّ الشَّيْطَانَ يَجْرِى مِنَ الإِنْسَانِ مَجْرَى الدَّمِ)) متفق عليه: البخاري، كتاب الاعتكاف، باب هل يخرج المعتكف لحوائجه إلى باب المسجد؟، برقم 2035، ومسلم، كتاب السلام، باب بيان أنه يستحب لمن رؤيَ خالياً بامرأة وكانت زوجة أو محرماً له أن يقول: هذه فلانة؛ ليدفع ظن السوء به، برقم 2175.

"Quả thật, Shayton đi lại trong cơ thể người thông qua mạch máu."([44])

11- Nhịn chay giúp cơ thể kiên nhẫn mọi việc như: kiên nhẫn khi qui phục Allah đó là nhịn chay, kiên nhẫn không phạm giới luật đó là những điều làm hư sự nhịn chay khi đang nhịn, kiên nhẫn về định mệnh mà Allah đã định về đói khát. Từ đó người nhịn chay được ban thưởng cho phần thưởng người kiên nhẫn như Allah đã hứa:

قال تعالى :          (إِنَّمَا يُوَفَّى الصَّابِرُونَ أَجْرَهُم بِغَيْرِ حِسَابٍ ) الزمر: ١٠

{Chắc chắn những người kiên nhẫn sẽ được ban thưởng vô giới hạn} Al-Zumar: 10.

12- Nhịn chay làm cho sức khỏe thêm tốt hơn bởi không khoảng thời gian nhịn giúp bao tử có thời gian nghỉ ngơi và tận dụng lại số lượng thực phẩm thừa trước đó dẫn đến tránh được rất nhiều căn bệnh ngoài ý muốn.([45])

13- Nhịn chay là sự thể hiện sự tôn thờ của bề tôi đối với Thượng Đế mình, cho nên đối với người có đức tin thật thụ cho dù có bị đàn áp ra sao cũng không chịu xả chay nếu không có lý do chính đáng. Đây chính là ý nghĩa cao quí của sự nhịn chay.

 Thứ tư: Đặc ân tháng Romadon.

 Tháng Romadon có rất nhiều đặc ân như sau:

 1- Romadon là tháng Allah mặc khải xuống Qur'an như đã phán:

قال تعالى :           )شَهْرُ رَمَضَانَ الَّذِي أُنزِلَ فِيهِ الْقُرْآنُ هُدًى لِّلنَّاسِ وَبَيِّنَاتٍ مِّنَ الْهُدَىٰ وَالْفُرْقَانِ  ) البقرة: ١٨٥

{Romadon là tháng mà Thiên Kinh Qur'an được mặc khải xuống mang đến chân lý cho nhân loại và là sự phân tích rõ ràng đâu là đúng sai, đâu là tội phước.} Al-Baqoroh: 185, Allah đã tôn vinh tháng Romadon hơn bao tháng khác, trong tháng này Ngài mặc khải xuống Thiên Kinh Qur'an và cũng trong tháng này có đêm Định Mệnh nằm trong mười ngày cuối tháng Romadon như đã được xác định trong Qur'an, Allah phán:

قال تعالى :         (إِنَّا أَنزَلْنَاهُ فِي لَيْلَةِ الْقَدْرِ (القدر: ١

{Quả thật, TA đã ban nó (Qur'an) xuống vào một đêm định mệnh} Al-Qodr: 1, Allah phán ở chương khác:

قال تعالى :            (إِنَّا أَنزَلْنَاهُ فِي لَيْلَةٍ مُّبَارَكَةٍ ۚ إِنَّا كُنَّا مُنذِرِينَ ) الدخان: ٣

{Quả thật, TA (Allah) đã mặc khải (Thiên Kinh Qur'an) xuống vào một đêm hồng phúc. Chắn chắn TA dùng Nó để khuyến cáo mọi người.} Al-Dukhon: 3.

 2- Đây là tháng mà những Kinh Sách trước đó cũng được mặc khải như được nhắc trong Hadith sau:

عَنْ وَاثِلَةَ بْنِ الأَسْقَعِ t أَنَّ رَسُولَ اللهِ g قَالَ: ((أُنْزِلَتْ صُحُفُ إِبْرَاهِيمَ u فِى أَوَّلِ لَيْلَةٍ مِنْ رَمَضَانَ، وَأُنْزِلَتِ التَّوْرَاةُ لِسِتٍّ مَضَيْنَ مِنْ رَمَضَانَ، وَالإِنْجِيلُ لِثَلاَثَ عَشْرَةَ خَلَتْ مِنْ رَمَضَانَ، وَأُنْزِلَ الْقُرْآنُ لأَرْبَعٍ وَعِشْرِينَ خَلَتْ مِنْ رَمَضَانَ)) مسند أحمد، 4/ 107، والمحقق، 28/ 191، برقم 16984، وقال محققو المسند: ((حديث ضعيف ) وقال الألباني: ((وهذا إسناد حسن، رجاله ثقات)[الأحاديث الصحيحة للألباني، برقم 1575].

Ông Al-Walithah bin Al-Asqo' t thuật lại lời Nabi g: "Quyển Suhuf của Ibrohim u được mặc khải xuống đêm đầu tiên tháng Romadon, Kinh Al-Tâuroh (Kinh Cựu Ước) được mặc khải xuống đêm thứ sáu tháng Romadon, Kinh Al-Injeel (Kinh Tân Ước) được mặc khải xuống đêm mười ba tháng Romadon và Kinh Qur'an được mặc khải xuống đêm hai mươi bốn tháng Romadon."([46]

 3- Mọi cửa của thiên đàng đều được mở toan.

 4- Mọi cửa của hỏa ngục đều bị đóng kín.

 5- Tất cả Shayton và ma quỷ đều bị xiềng xích.

 6- Những cánh cửa xót thương từ bi được mở toan.

 7- Những cách cửa của bầu trời được mở.

 8- Có lời gọi: hỡi những ai làm việc thiện, hãy mau đến đây và hỡi những ai làm xấu xa tội lỗi hãy ngưng đi.

 9- Cứ mỗi đêm Allah đều cứu với nhiều người ra khỏi hỏa ngục.

عَنْ أَبِى هُرَيْرَةَ t عَنْ رَسُولِ اللهِ m قَالَ: ((إِذَا كَانَتْ أَوَّلُ لَيْلَةٍ مِنْ رَمَضَانَ صُفِّدَتِ الشَّيَاطِينُ، وَمَرَدَةُ الْجِنِّ، وَغُلِّقَتْ أَبْوَابُ النَّارِ فَلَمْ يُفْتَحْ مِنْهَا بَابٌ، وَفُتِحَتْ أَبْوَابُ الْجَنَّةِ فَلَمْ يُغْلَقْ مِنْهَا بَابٌ، وَنَادَى مُنَادٍ: يَا بَاغِىَ الْخَيْرِ أَقْبِلْ، وَيَا بَاغِىَ الشَّرِّ أَقْصِرْ، وَلِلهِ عُتَقَاءُ مِنَ النَّارِ، وَذَلِكَ فِى كُلِّ لَيْلَةٍ)) وفي لفظ للبخاري: ((وَفُتِحَتْ أَبْوَابُ السَّمَاءِ) وفي لفظ لمسلم: ((وَفُتِحَ أَبْوَابُ الرَّحْمَةِ) وفي لفظ للبخاري ومسلم: ((وَسُلْسِلَتِ الشَّيَاطِيْنُ)) متفق عليه: البخاري، كتاب الصيام، بابٌ: هل يقال رمضان، أو شهر رمضان ؟ ومن رأى كلَّه واسعاً، برقم 1898، ورقم 1899، ومسلم، كتاب الصيام، باب فضل رمضان، برقم 2 (1079)، والترمذي واللفظ له برقم 682، والنسائي، برقم 2097.

Ông Abu Huroiroh t thuật lại lời Nabi m: "Vào đêm đầu tiên tháng Romadon: Shayton và ma quỉ bị xiềng xích,([47]) các cửa của hỏa ngục bị đóng chặt không một cửa nào được mở và các cửa của thiên đàng được mở toan không một cửa nào bị đóng, có lời gọi: hỡi những ai làm việc thiện, hãy mau đến đây và hỡi những ai làm xấu xa tội lỗi hãy ngưng đi và Allah cứu nhiều người ra khỏi hỏa ngục. Cứ như thế xảy ra mỗi đêm (trong tháng Romadon)." Theo đường truyền khác do Al-Bukhory ghi lại: "các cửa của bầu trời được mở," theo đường truyền khác do Muslim ghi lại: "và các xót thương từ bi được mở," theo đường truyền khác do Al-Bukhory và Muslim ghi lại: "Shayton bị xiềng xích lại."([48])

 10- Tháng Romadon có đêm tốt hơn ngàn tháng bình thường ai không được hưởng ân phước này thì đã bị cấm hưởng hết tất cả mọi ân phước như được nhắc trong Hadith:

عَنْ أَبِى هُرَيْرَةَ t قَال: قَالَ رَسُولُ اللهِ m: ((أَتَاكُمْ شَهْرُ رَمَضَانَ شَهْرٌ مُبَارَكٌ، فَرَضَ اللهُ عَلَيْكُمْ صِيَامَهُ، يُفْتَحُ فِيهِ أَبْوَابُ السَّمَاءِ، وَيُغْلَقُ فِيهِ أَبْوَابُ الْجَحِيمِ، وَتُغَلُّ فِيهِ مَرَدَةُ الشَّيَاطِينُ لِلهِ فِيهِ لَيْلَةٌ خَيْرٌ مِنْ أَلْفِ شَهْرٍ، مَنْ حُرِمَ خَيْرَهَا فَقَدْ حُرِمَ)) النسائي، كتاب الصيام، باب ذكر الاختلاف على معمر، برقم 2108، وأحمد برقم 7148،  وقال الألباني في صحيح ابن ماجه 2/456: (( حسن صحيح )).  

"Tháng Romadon đã đến với mọi người đấy là tháng đầy phúc lành, Allah đã qui định các người phải nhịn chay trong tháng. Tháng này mọi cửa của bầu trời được mở, các cửa của hỏa ngục bị đóng còn Shayton ma quỉ thì bị xiềng xích. Allah qui định trong tháng có một đêm tốt hơn ngàn tháng. Đối với ai không được hưởng ân phước này thì đã bị cấm hưởng hết tất cả mọi ân phước."([49])

عَنْ أَنَسِ بْنِ مَالِكٍ t قَالَ: دَخَلَ رَمَضَانُ فَقَالَ رَسُولُ اللهِ m: ((إِنَّ هَذَا الشَّهْرَ قَدْ حَضَرَكُمْ، وَفِيهِ لَيْلَةٌ خَيْرٌ مِنْ أَلْفِ شَهْرٍ، مَنْ حُرِمَهَا فَقَدْ حُرِمَ الْخَيْرَ كُلَّهُ وَلاَ يُحْرَمُ خَيْرَهَا إِلاَّ مَحْرُومٌ)) ابن ماجه، كتاب الصيام، باب ما جاء في فضل شهر رمضان، برقم 1644، وقال الألباني في صحيح ابن ماجه، 2/159: ((حسن صحيح)).

Ông Anas bin Malik t kể: khi bước vào Romadon Rosul m nói: "Quả thật, tháng (Romadon) này đã đến với các người, trong tháng có đêm tốt hơn ngàn tháng. Ai bị cấm hưởng ân phước của đêm này thì đã bị cấm hết tất cả và không ai bị cấm chỉ ngoại trừ những kẻ đáng bị cấm."([50]

 11- Tháng Romadon lời cầu xin được đáp lại như Allah đã nhắc trong Qur'an khi phán về sự nhịn chay:

قال تعالى :           )وَإِذَا سَأَلَكَ عِبَادِي عَنِّي فَإِنِّي قَرِيبٌ ۖ أُجِيبُ دَعْوَةَ الدَّاعِ إِذَا دَعَانِ ۖ فَلْيَسْتَجِيبُوا لِي وَلْيُؤْمِنُوا بِي لَعَلَّهُمْ يَرْشُدُونَ  ) البقرة: ١٨٦

{Và một khi các bề tôi của TA hỏi Ngươi (Muhammad) về TA, (hãy bảo chúng): Quả thật, TA rất gần, Ta sẽ đáp lại lời cầu xin của ai cầu xin TA. Cho nên hãy cầu xin TA đi, hãy tin tưởng vào TA đi mai ra các người được hướng dẫn.} Al-Baqoroh: 186.

عَنْ أَبِى سَعِيدٍ قَالَ: قَالَ رَسُولُ اللهِ m: ((إِنَّ لِلهِ عُتَقَاءَ فِى كُلِّ يَوْمٍ وَلَيْلَةٍ، لِكُلِّ عَبْدٍ مِنْهُمْ دَعْوَةٌ مُسْتَجَابَةٌ)) أحمد، 12/420، برقم 7450، وقال محققو المسند، 12/420: ((إسناده صحيح على شرط الشيخين، والشك في صحابي الحديث لا يضر)).

Ông Abu Sa-i'd t thuật lại lời Rosul m: "Quả thật, Allah sẽ phóng thích người (ra khỏi hỏa ngục) vào mỗi ngày và mỗi đêm (trong cả tháng Romadon). Mỗi người trong số (người nhịn chay) có được lời cầu xin được đáp lại."([51])

عن أبي سعيد الخدري t قال: قال رسول الله ﷺ‬: ((إِنَّ لِلهَ تَبَارَكَ وَتَعَالَى عُتَقَاءُ فِي كُلِّ يَوْمٍ وَلَيْلَةٍ – يَعْنِي فِي رَمَضَانَ – وَإِنَّ لِكُلِّ مُسْلِمٍ فِي يَوْمٍ وَلَيْلَةٍ دَعْوَةً مُسْتَجَابَةً)) البراز في كشف الأستار، برقم 962، وذكره الحافظ ابن حجر في مختصر زوائد مسند البراز على الكتب الستة ومسند أحمد، برقم 664، وقال الألباني في صحيح الترغيب والترهيب، 1/586: (( صحيح لغيره)).

Ông Abu Sa-i'd t thuật lại lời Rosul m: "Quả thật, Allah Đấng Hồng Phúc và Tối Cao phóng thích người (ra khỏi hỏa ngục) vào mỗi ngày và mỗi đêm (trong tháng Romadon) và mỗi người Muslim trong mỗi ngày đêm đều có được lời cầu xin được đáp lại."([52]

وعن جابر t قال: قال رسول الله ﷺ‬: ((إِنَّ لِلهِ ﷻ‬ عِنْدَ كُلِّ فِطْرٍ عُتَقَاءٌ وَذَلِكَ فِي كُلِّ لَيْلَةٍ)) ابن ماجه، كتاب الصيام، باب ما جاء في فضل شهر رمضان، برقم 1643، وقال الألباني في صحيح ابن ماجه، 2/59: ((حسن صحيح)).

Ông Jabir t thuật lại lời Rosul m: "Quả thật, Allah Hùng Mạnh và Cao Quí thường phóng thích người (ra khỏi hỏa ngục) ngay lúc xả chay và điều đó xảy ra vào mỗi đêm."([53]

 12- Tháng Romadon là tháng tụng niệm và tạ ơn, bởi Allah đã nhắc khi đang phán về giáo lý nhịn chay, Allah phán:

قال تعالى :        (وَلِتُكَبِّرُوا اللَّهَ عَلَىٰ مَا هَدَاكُمْ وَلَعَلَّكُمْ تَشْكُرُونَ ) البقرة: ١٨٥

{Và để các người tụng niệm Allohu Akbar (Allah thật vĩ đại) về những gì đã hướng dẫn các người và mong rằng qua đó các người biết tạ ơn TA} Al-Baqoroh: 185.

 13- Tháng Romadon là tháng nhẫn nhịn như được nhắc trong Hadith sau:

عَنْ عَبْدِ اللهِ بْنِ عَبَّاسٍ k عَن النَّبِيِّ m أَنَّهُ قَالَ: ((صَوْمُ شَهْرِ الصَّبْرِ وَثَلاَثَةِ أَيَّامٍ مِنْ كُلِّ شَهْرٍ يُذْهِبْنَ وَحَرَ الصَّدْرِ)) أخرجه أحمد، 38/168، برقم 3070، ورقم 23077، و34/240، برقم 20737.

Ông Abdullah bin Abbaas k thuật lại lời Nabi m: "Ai nhịn chay vào tháng kiên nhẫn (tức Romadon) và nhịn ba ngày trong mỗi tháng sẽ xua đuổi được sự nóng nãy trong lồng ngực."([54])

Và chắc chắn nhịn chay trong tháng Romadon là sự kiên nhẫn trong việc qui phục Allah, kiên nhẫn với những định mệnh Allah đã định về đói khát, kiên nhẫn không phạm điều cấm mà Allah đã cấm người nhịn chay, vì vậy mà Allah đã phán:

قال تعالى :          إِنَّمَا يُوَفَّى الصَّابِرُونَ أَجْرَهُم بِغَيْرِ حِسَابٍ  ) الزمر: ١٠

{Chắc chắn những người kiên nhẫn sẽ được ban thưởng vô giới hạn} Al-Zumar: 10.

 14- Nhịn chay tháng Romadon chuộc được tội lỗi như được nhắc trong Hadith:

عَنْ أَبِى هُرَيْرَةَ t أَنَّ رَسُولَ اللهِ m كَانَ يَقُولُ: ((الصَّلَوَاتُ الْخَمْسُ وَالْجُمُعَةُ إِلَى الْجُمُعَةِ وَرَمَضَانُ إِلَى رَمَضَانَ مُكَفِّرَاتٌ مَا بَيْنَهُنَّ إِذَا اجْتَنَبَ الْكَبَائِرَ)) مسلم، كتاب الطهارة، باب الصلوات الخمس والجمعة إلى الجمعة، ورمضان إلى رمضان...، برقم 233.

Ông Abu Huroiroh t thuật lại lời Nabi m: "Năm lễ Solah bắt buộc, từ thứ sáu đến thứ sáu và từ Romadon đến Romadon là sự chuộc lại sai lầm giữa chúng nếu đã tránh được trọng tội."([55]

 15- Tháng Romadon là tháng tha thứ tội lỗi như được nhắc trong Hadith sau:

عَنْ أَبِى هُرَيْرَةَ t عَنِ النَّبِيِّ  m أَنَّهُ قَالَ: ((مَنْ صَامَ رَمَضَانَ إِيمَاناً وَاحْتِسَاباً غُفِرَ لَهُ مَا تَقَدَّمَ مِنْ ذَنْبِهِ)) متفق عليه: البخاري، كتاب الصيام، بابٌ: صوم رمضان احتساباً من الإيمان، برقم 38، ومسلم، كتاب صلاة المسافرين، باب الترغيب في قيام رمضان وهو التراويح، برقم 860.

Ông Abu Huroiroh t thuật lại lời Nabi m: “Ai nhịn chay trong tháng Romadon bằng sự tin tưởng([56]) và kỳ vọng được phần thưởng từ Allah sẽ được tha thứ cho tất cả tội lỗi đã phạm.”([57])

 16- Tháng Romadon là thời gian vĩ đại mà Allah dùng để tha thứ tội lỗi và những kẻ không được tha thứ trong tháng Romadon toàn là những người khốn khổ đáng tội nghiệp như có Hadith:

عَنْ أَبِى هُرَيْرَةَ t أَنَّ رَسُولَ اللهِ m ارْتَقَى الْمِنْبَرَ فَقَالَ: ((آمِينَ آمِينَ آمِينَ)). فَقِيلَ لَهُ: يَا رَسُولَ اللهِ مَا كُنْتَ تَصْنَعُ هَذَا؟ فَقَالَ: ((قَالَ لِى جَبْرِيلُ u: رَغِمَ أَنْفُ عَبْدٍ دَخَلَ عَلَيْهِ رَمَضَانُ فَلَمْ يُغْفَرْ لَهُ، فَقُلْتُ آمِينَ، ثُمَّ قَالَ: رَغِمَ أَنْفُ عَبْدٍ ذُكِرْتَ عِنْدَهُ فَلَمْ يُصَلِّ عَلَيْكَ، فَقُلْتُ آمِينَ، ثُمَّ قَالَ: رَغِمَ أَنْفُ عَبْدٍ أَدْرَكَ وَالِدَيْهِ أَوْ أَحَدَهُمَا فَلَمْ يَدْخُلِ الْجَنَّةَ فَقُلْتُ آمِينَ)) ابن خزيمة، 3/192، و أحمد، 2/246، 254، والبيهقي، 4/304، والبخاري في الأدب المفرد برقم 646، وقال الألباني في صحيح الأدب المفرد: ((حسن صحيح))، وأصله في صحيح مسلم، برقم 2551.

Ông Abu Huroiroh t kể: khi Nabi m bước lên bụt giảng Người nói: "Amin, Amin, Amin." Có người hỏi: thưa Rosul! Người chưa từng làm chuyện như thế bao giờ ?, Người đáp: "Jibreel u bảo Ta khốn khổ thay cho một bề tôi khi đã bước vào Romadon mà vẫn không được tha thứ, Ta nói: Amin. Sau đó nói tiếp: khốn khổ thay cho một bề tôi khi Người được nhắc trước mặt y mà y vẫn không cầu xin bình an cho Người, Ta nói: Amin. Sau đó nói tiếp: khốn khổ thay cho một bề tôi một khi cha mẹ y đã già hoặc một trong hai đã già mà vẫn không được cho vào thiên đàng, Ta nói: Amin."([58]

عَنْ أَبِى هُرَيْرَةَ t قَالَ: قَالَ رَسُولُ اللهِ m: ((رَغِمَ أَنْفُ رَجُلٍ ذُكِرْتُ عِنْدَهُ فَلَمْ يُصَلِّ عَلَىَّ، وَرَغِمَ أَنْفُ رَجُلٍ دَخَلَ عَلَيْهِ رَمَضَانُ ثُمَّ انْسَلَخَ قَبْلَ أَنْ يُغْفَرَ لَهُ، وَرَغِمَ أَنْفُ رَجُلٍ أَدْرَكَ عِنْدَهُ أَبَوَاهُ الْكِبَرَ فَلَمْ يُدْخِلاَهُ الْجَنَّةَ)) قال بعض رواة الحديث: وأظنه قال: ((أَوْ أَحَدُهُمَا)) الترمذي، كتاب الدعوات، باب رغم أنف رجل ذكرت عنده فلم يصلِّ علي، برقم 3545، و قال الألباني في صحيح الترمذي، 3/457: ((حسن صحيح)).

Ông Abu Huroiroh t thuật lại lời Nabi m: "Khốn khổ thay cho ai khi Ta được nhắc trước mặt y mà y vẫn không cầu xin bình an cho Ta, khốn khổ thay cho ai khi tháng Romadon bước ngang qua đời y mà y vẫn không được tha thứ và khốn khổ cho ai khi cả hai cha mẹ đã già mà vẫn không được cho vào thiên đàng." Có số đường truyền khác thì nói: "hoặc một trong hai."([59]

 17- Nhịn tháng Romadon được nâng cao địa vị như được nhắc trong Hadith sau:

عَنْ طَلْحَةَ بْنِ عُبَيْدِ اللهِ التَّيْمِىِّ t: أَنَّ رَجُلَيْنِ مِنْ بَلِىٍّ قَدِمَا عَلَى رَسُولِ اللهِ m فَكَانَ إِسْلاَمُهُمَا مَعاً، وَكَانَ أَحَدُهُمَا أَشَدَّ اجْتِهَادًا مِنَ الآخَرِ، فَغَزَا الْمُجْتَهِدُ مِنْهُمَا فَاسْتُشْهِدَ ثُمَّ مَكَثَ الآخَرِ بَعْدَهُ سَنَةً، ثُمَّ تُوُفِّى. قَالَ طَلْحَةُ: بَيْنَا أَنَا عِنْدَ بَابِ الْجَنَّةِ فِى النَّوْمِ إِذَا أَنَا بِهِمَا فَخَرَجَ خَارِجٌ مِنَ الْجَنَّةِ فَأَذِنَ لِلَّذِى مَاتَ الآخِرُ مِنْهُمَا، ثُمَّ رَجَعَ فَأَذِنَ لِلَّذِى اسْتُشْهِدَ ثُمَّ رَجَعَ إِلَىَّ فَقَالَ: ارْجِعْ فَإِنَّهُ لَمْ يَأْنِ لَكَ فَأَصْبَحَ طَلْحَةُ فَحَدَّثَ النَّاسَ فَعَجِبُوا فَبَلَغَ ذَلِكَ رَسُولُ اللهِ m فَقَالَ: ((مِنْ أَىِّ ذَلِكَ تَعْجَبُونَ ؟)). قَالُوا : يَا رَسُولَ اللهِ هَذَا الَّذِى كَانَ أَشَدَّ الرَّجُلَيْنِ اجْتِهَادًا فَاسْتَشْهَدَ فِى سَبِيلِ اللهِِ فَدَخَلَ الآخِرُ الْجَنَّةَ قَبْلَهُ. قَالَ: ((أَلَيْسَ قَدْ مَكَثَ هَذَا بَعْدَهُ سَنَةً وَأَدْرَكَ رَمَضَانَ فَصَامَهُ ؟)). قَالُوا: بَلَى، قَالَ:«وَصَلَّى كَذَا وَكَذَا مِنْ سَجْدَةٍ فِى السَّنَة ؟)) قَالُوا: بَلَى، قَالَ رَسُولُ اللهِ m:« لَمَا بَيْنَهُمَا أَبَعْدُ مِمَّا بَيْنَ السَّمَاءِ وَالأَرْضِ)) ابن ماجه، كتاب تعبير الرؤيا، باب تعبير الرؤيا، برقم 3925، وصححه الألباني في صحيح سنن النسائي، 3/284.

Ông Tolhah bin ﷻ‬'baidillah Al-Taimy t kể: có hai người đàn ông từ Baly đến gặp Nabi m và cả hai vào Islam cùng lúc. Một trong hai người họ rất yêu thích thánh chiến hơn người khác, thế là người thích thánh chiến cố gắng làm theo ước vọng rồi cũng tử vì thánh chiến còn người kia thì sống thêm một năm sau rồi mất. Ông Tolhah kể tiếp: tôi nằm mơ  thấy tôi cùng hai người họ đang đứng ở cửa thiên đàng. Lúc đó có người bước ra khỏi thiên đàng cho phép người chết sau trong số hai người họ vào thiên đàng trước, kế tiếp cho phép người chết vì thánh chiến bước vào kế tiếp, rồi quay lại tôi và nói: anh hãy về đi, anh chưa đến giờ bước vào. Sáng đến ông Tolhah đem chuyện kể làm mọi người thấy ngạc nhiên và sự việc được đến tai Nabi m Người hỏi: "Mọi người ngạc nhiên về điều đó à ?" Mọi người đáp: thưa Rosul! Người yêu thích thánh chiến và chết vì thánh chiến vậy mà người chết sau y lại được vào thiên đàng trước y. Nabi đáp m: "Chẳng phải người chết sau sống thêm được một năm và đến tháng Romadon và y đã nhịn ?" họ đồng đáp: đúng rồi, Người tiếp: "Chẳng phải người chết sau đã dâng lễ Solah như thế này, thế này và quỳ lại thế này cả năm hay sao ?" đúng vậy, mọi người đồng đáp. Nabi m tiếp: "Thế đấy mà khoảng cách giữa hai người họ như trời với đất."([60]

 18- Umroh tháng Romadon giống như làm Haj cùng Nabi m như được nhắc trong Hadith sau:

عَنِ ابْنِ عَبَّاسٍ k أَنَّ النَّبِىَّ m قَالَ لاِمْرَأَةٍ مِنَ الأَنْصَارِ يُقَالُ لَهَا أُمُّ سِنَانٍ: ((مَا مَنَعَكِ أَنْ تَكُونِى حَجَجْتِ مَعَنَا)) قَالَتْ نَاضِحَانِ كَانَا لأَبِى فُلاَنٍ - زَوْجِهَا - حَجَّ هُوَ وَابْنُهُ عَلَى أَحَدِهِمَا وَكَانَ الآخَرُ يَسْقِى عَلَيْهِ غُلاَمُنَا. قَالَ: ((فَإِنَّ عُمْرَةً فِى رَمَضَانَ تَقْضِى حَجَّةً. أَوْ حَجَّةً مَعِى)) وفي لفظ لمسلم: ((فَإِذَا جَاءَ رَمَضَانُ فَاعْتَمِرِي، فَإِنْ عُمْرَةً فِيْهِ تَعْدِلُ حَجَّةٌ)) متفق عليه: البخاري، كتاب العمرة، باب عمرة في رمضان، برقم 1782، وكتاب جزاء الصيد، باب حج النساء، برقم 1863، ومسلم، كتاب الحج، باب فضل العمرة في رمضان، برقم 1256.

Ông Ibnu Abbaas k kể: Nabi m nói với một người phụ nữ Al-Ansor được gọi tên là Um Sinaan: "Điều gì cấm cô đi làm Haj cùng Ta ?" bà đáp: chồng tôi có hai con lạc đà: một con chồng tôi cưỡi đi làm Haj còn một con dùng để tưới rẫy. Nabi m đáp: "Quả thật, Umroh trong Romadon tương đương với Haj hoặc tương đương với Haj cùng Ta." Đường truyền của Muslim ghi lại: "Khi Romadon đến cô hãy đi làm Umroh, bởi Umroh khi đó tương đương với Haj."([61])

Quan trọng là Nabi m đã báo cho Um Sinaan rằng Umroh trong Romadon tương đương với Haj về phần thưởng nhưng không thể thay thế được Haj bắt buộc đối với ai chưa làm Haj. Giới học giả thống nhất là Umroh không thay thế được cho Haj bắt buộc. Đối với Hadith này đây là ân phước là hồng ân mà Allah dành cho người có đức tin, cũng trong Hadith nói lên rằng việc làm được cao quí hơn do thời gian, được cao quí hơn nếu con tim người đó tồn tại (tức chú tâm làm) và được cao quí khi thật thành tâm. Đối với ân phước Umroh trong Romadon tương đương với Haj hoặc Haj cùng với Nabi m là dành chung cho tất cả người Muslim chứ không dành riêng cho Um Sinaan và đây là ân phước, hồng phúc và sự rộng lượng của Allah dành cho các bề tôi có đức tin của Ngài.

 19- Ai nhịn chay Romadon sẽ thuộc thành nhóm Al-Siddeeq (chân thật) và thánh chiến như được nhắc trong Hadith sau:

عَنْ عَمْرٌو بِنْ مُرَّةٍ الْجُهَنِي t، قَالَ: جَاءَ رَسُولَ اللهِ ﷺ‬ رَجُلٌ مِنْ قَضَاعَةٍ، فَقَالَ لَهُ: يَا رَسُولُ اللهِ! أَرَأَيْتَ إِنْ شَهَدْتُ أَنْ لَا إِلَـٰهَ إِلَّا اللهُ، وَأَنَّكَ رَسُولَ اللهِ، وَصَلَّيْتُ الصَّلَوَاتِ الْخَمْسَ، وَأَدَّيْتُ الزَّكَاةَ، وَصُمْتُ رَمَضَانَ وَقُمْتُهُ فَمَنْ أَنَا؟ قَالَ: ((مِنَ الصِّدِّيْقِيْنَ وَالشُّهَدَاءِ)) ابن حبان (موارد) واللفظ له، برقم 19، وابن خزيمة، 3/340، برقم 2212، وقال الألباني: إسناده حسن، [حاشية الألباني على صحيح ابن خزيمة، 3/340].

Ông A'mr bin Murroh Al-Juhany t kể: có một người đàn ông từ Qo-do-a'h đến gặp Nabi g rồi nói: Thưa Rosul của Allah! Tôi sẽ trở thành người ra sao nếu tôi tuyên thệ không có Thượng Đế nào xứng đứng được tôn thờ mà chỉ có Allah duy nhất và Người là Rosul (Thiên Sứ) của Allah, tôi dâng lễ Solah bắt buộc năm lần, tôi xuất Zakat bắt buộc, tôi nhịn chay Romadon và dâng lễ Solah (Taroweeh) ? Nabi g đáp: "(Anh thuộc) nhóm người Al-Siddeeq và chết vì thánh chiến."([62]

 20- Nhịn chay tháng Romadon được vào thiên đàng như được nhắc trong Hadith sau:

عَنْ أَبِي عَبْدِ اللهِ جَابِرٍ بِنْ عَبْدِ اللهِ الْأَنْصَارِيِّ t أَنَّ رَجُلاً سَأَلَ رَسُولَ اللهِ e فَقَالَ: يَا رَسُولَ اللهِ أَرَأَيْتَ إِذَا صَلَّيْتُ الْمَكْتُوبَاتِ وَصُمْتُ رَمَضَانَ وَأَحْلَلْتُ الْحَلَالَ وَحَرَّمْتُ الْحَرَامَ وَلَمْ أَزِدْ عَلَى ذَلِكَ شَيْئًا أَفَأَدْخُلُ الْجَنَّةَ؟ قَالَ e: ((نَعَمْ)). قَالَ: وَاللهِ لَا أَزِيْدُ عَلَى ذَلِكَ شَيْئاً. رواه مسلم كتاب: الإيمان، باب: بيان الإيمان الذي يدخل به الجنة وأن من تمسك بما أمر به دخل الجنة رقم 15.

Cha của Abdullah ông Jabir bin Al-Ansory t kể: có người đàn ông nói với Nabi e: Thưa Rosul! Người thấy sao tôi chỉ dâng lễ Solah bắt buộc, nhịn chay Romadon, chỉ làm điều Halal, không làm mọi điều Harom và không thêm hay bớt điều gì cả, tôi có được vào thiên đàng không ? Nabi e đáp: "Được." Người đàn ông nói: thề bởi Allah chứng giám, tôi sẽ không bao giờ thêm bất cứ điều gì.([63])

Hadith trên chứng minh rằng ai chỉ làm những điều Allah bắt buộc và không qui phạm mọi điều Allah cấm sẽ được vào thiên đàng nhưng ai bỏ tuyệt đối không làm Sunnah (điều khuyến) thì đã đánh mất đi cơ hội vô cùng quí báu và Allah đã chuẩn bị phần thưởng vĩ đại dành cho ai không bỏ đi điều Sunnah (khuyến khích) đó. Đối với ai thường xuyên bỏ điều Sunnah quả là điều rất thiếu xót.

 21- Đứng dâng lễ Solah Taroweeh bằng đức tin và kỳ vọng phần thưởng từ Allah sẽ được tha thứ tất cả tội lỗi đã phạm như được nhắc trong Hadith:

عن أبي هريرة t أن رسول الله ﷺ‬ قال: ((مَنْ قَامَ رَمَضَانَ إِيمَاناً وَاحْتِسَاباً غُفِرَ لَهُ مَا تَقَدَّمَ مِنْ ذَنْبِهِ)) متفق عليه: البخاري، كتاب صلاة  التراويح، باب فضل من قام رمضان، برقم 2009، ومسلم، كتاب صلاة المسافرين، باب الترغيب في قيام رمضان، وهو التراويح، برقم 759.

“Ai đứng dâng lễ Solah (Taroweeh) trong tháng Romadon bằng sự tin tưởng và hy vọng được phần thưởng từ Allah sẽ được tha thứ cho tất cả tội lỗi đã phạm.”([64])

Đối với người Muslim nào đứng dâng lễ Solah Taroweeh trong tháng Romadon tin tưởng vào những gì Nabi e báo ân phước của Nó đồng thời kỳ vọng vào phần thưởng Allah sẽ ban cho, thật thành tâm làm vì Allah và làm hài lòng Ngài thì chắc chắn sẽ được tha thứ mọi tội lỗi và đạt được phần thưởng vĩ đại.([65])

 22- Tháng Romadon là tháng Solah Taroweeh, bởi Solah Taroweeh không được thực hiện tập thể chỉ ngoại trừ trong tháng Romadon như được nhắc trong Hadith bà A-y-shah i kể:

 trước kia Nabi e bước ra Masjid đứng dâng lễ Solah (Taroweeh) trong đêm tối có một số người phát hiện và đến dâng cùng Người. Sáng lại mọi người đồn đãi nhau sự việc, tối đêm thứ hai mọi người đến đông đúc hơn cùng Nabi e dâng (Solah Taroweeh). Sáng hôm sau lời đồn đãi càng nhiều hơn làm cho tối đêm thứ ba mọi người đến đông đúc hơn hai đêm thứ nhất và thứ hai và Nabi e ra dâng lễ Solah Taroweeh cùng họ. Đến đêm thứ tư làm cho Masjid chật nức không còn chổ đứng nhưng Nabi e không ra dâng lễ cùng họ, làm cho mọi người bắt đầu nói: "Solah" nhưng Nabi e vẫn không bước ra dâng lễ Solah cùng họ cho đến giờ Fajr. Sau khi, dâng xong lễ Fajr Người quay mặt lại nói sau khi đã tạ ơn và ca ngợi Allah:

قال ﷺ‬: ((أَمَّا بَعْدُ، فَإِنَّهُ لَمْ يَخْفَ عَلَىَّ مَكَانُكُمْ، لَكِنِّى خَشِيتُ أَنْ تُفْرَضَ عَلَيْكُمْ فَتَعْجِزُوا عَنْهَا)) متفق عليه: البخاري، كتاب الجمعة، باب من قال في الخطبة بعد الثناء: أما بعد، برقم 934، ومسلم، واللفظ له، في كتاب صلاة المسافرين، باب الترغيب في قيام رمضان، وهو التراويح، برقم 761.

"Amma Ba'd: Việc các người làm tối qua Ta đã thấy rất rõ nhưng Ta sợ nếu tiếp tục (dâng lễ Solah Taroweeh) sẽ trở thành sự bắt buộc dâng lễ Solah trong đêm trong khi các người bất lực thực hiện." Bà A-y-shah i tiếp: điều này xảy ra trong tháng Romadon.([66])

Solah Taroweeh: là lễ Solah dâng trong tháng Romadon ngay trong đêm đầu tiên của tháng, đặt tên như thế là vì cứ mỗi bốn Rak-at là nghỉ giải lao.

 23- Trong tháng Romadon ai đứng dâng lễ Solah Taroweeh đến khi Imam kết thúc sẽ được Allah viết cho đã đứng dâng lễ trọn đêm như được nhắc trong Hadith sau:

عَنْ أَبِي ذَرٍّ t، قَالَ ﷺ‬: ((إِنَّ الرَّجُلَ إِذَا قَامَ مَعَ الإِمَامِ حَتَّى يَنْصَرِفَ كَتَبَ اللهُ لَهُ قِيَامُ لَيْلَةٍ)) وفي لفظ: ((كُتِبَ لَهُ قِيَامُ لَيْلَةٍ)) أحمد، 5/159، وأبو داود، كتاب شهر رمضان، باب في قيام شهر رمضان، برقم1375، والنسائي، كتاب قيام الليل وتطوع النهار، باب قيام شهر رمضان، برقم 1605، والترمذي، كتاب الصوم، باب ما جاء في قيام شهر رمضان، برقم 806، وابن ماجه، كتاب إقامة الصلاة والسنة فيها، باب ما جاء في قيام شهر رمضان، برقم 1327، وصححه الألباني، في صحيح سنن النسائي، 1/353، و في غيره.

"Quả thật, khi ai đứng dâng lễ Solah cùng với Imam cho đến khi Imam dâng xong lễ sẽ được Allah viết cho là đã đứng dâng lễ cả đêm" có đường truyền khác ghi: "sẽ được viết cho là đứng dâng lễ suốt cả đêm."([67])

 24- Tháng Romadon là tháng Islam chiến thắng được kẻ thù ở trận Badr mặc dù lực lượng Muslim rất ít so với kẻ thù như Allah đã phán trong Qur'an:

قال تعالى :         (وَلَقَدْ نَصَرَكُمُ اللَّهُ بِبَدْرٍ وَأَنتُمْ أَذِلَّةٌ ۖ فَاتَّقُوا اللَّهَ لَعَلَّكُمْ تَشْكُرُونَ إِذْ تَقُولُ لِلْمُؤْمِنِينَ أَلَن يَكْفِيَكُمْ أَن يُمِدَّكُمْ رَبُّكُم بِثَلَاثَةِ آلَافٍ مِّنَ الْمَلَائِكَةِ مُنزَلِينَ  بَلَىٰ ۚ إِن تَصْبِرُوا وَتَتَّقُوا وَيَأْتُوكُم مِّن فَوْرِهِمْ هَٰذَا يُمْدِدْكُمْ رَبُّكُم بِخَمْسَةِ آلَافٍ مِّنَ الْمَلَائِكَةِ مُسَوِّمِينَ  وَمَا جَعَلَهُ اللَّهُ إِلَّا بُشْرَىٰ لَكُمْ وَلِتَطْمَئِنَّ قُلُوبُكُم بِهِ ۗ وَمَا النَّصْرُ إِلَّا مِنْ عِندِ اللَّهِ الْعَزِيزِ الْحَكِيمِ   آل عمران: ١٢٣ – ١٢٦

{Và chắc chắn Allah đã giúp đỡ các người (chiến thắng) tại Badr trong khi các người bị yếu thế. Bởi thế hãy kính sợ Allah để may ra các người biết tạ ơn Ngài * Khi Ngươi (Muhammad) bảo các tín đồ có đức tin: "Không đủ cho các người hay sao việc Thượng Đế của các người đã cử xuống ba ngàn Thiên Thần để tăng cường cho các người?" * Đúng, nếu các người kiên trì và sợ Allah thì cho dù quân địch có tất công các người bất ngờ thì Thượng Đế của các người cũng sẽ tăng cường cho các người năm ngàn Thiên Thần mang dấu hiệu đặc biệt xuống * Allah làm điều đó chỉ để báo tin mừng cho các người và để làm cho các người an tâm với sự chỉ đạo đó, và không có sự chiến thắng nào mà không do Allah Đấng Hùng Mạnh, Đấng Sáng Suốt quyết định cả.} Ali I'mron: 123 – 126, trong trận Badr lực lượng Muslim chỉ có ba trăm mười bảy người, hai con ngựa và bảy chục con lạc đà vậy mà Allah đã ban cho chiến thắng quân địch Quraish khoảng ngàn người, một trăm con ngựa và bảy trăm con lạc đà. Và thời gian xảy ra trận Badr là trong tháng Romadon năm thứ hai theo lịch Islam.

Tương tự thế Allah cũng đã ban cho chiến thắng cho người có đức tin khi khải hoàn trở về Makkah và chiếm lĩnh được Makkah do sự đầu hàng ngay từ đầu của quân địch nên không có xô sát hay đỗ máu và thời gian cũng trong tháng Romadon năm thứ tám lịch Islam, bởi sự chiến thắng là trong tay Allah Ngài sẽ giúp đỡ các Rosul của Ngài và những ai tin tưởng theo các vị Rosul này như Allah đã phán:

قال تعالى :         (وَمَا النَّصْرُ إِلَّا مِنْ عِندِ اللَّهِ الْعَزِيزِ الْحَكِيمِ   آل عمران: ١٢٦

{Và không có sự chiến thắng nào mà không do Allah Đấng Hùng Mạnh, Đấng Sáng Suốt quyết định cả.} Ali I'mron: 126.

Allah phán ở chương khác:

قال تعالى :           (وَلَيَنصُرَنَّ اللَّهُ مَن يَنصُرُهُ ۗ إِنَّ اللَّهَ لَقَوِيٌّ عَزِيزٌ )الحج: ٤٠

{Và chắc chắn Allah sẽ trợ giúp những ai giúp đỡ (tôn giáo) của Ngài. Quả thật, Allah là Đấng Hùng Mạnh, Đấng Toàn Năng.} Al-Haj: 40.

25- Sự rộng lượng được tăng lên ngay trong tháng Romadon Hồng Phúc giống như trước kia Nabi e là Người rộng lượng nhất trong thiên hạ và sự rộng lượng đó thể hiện rõ nhất là trong tháng Romadon khi gặp gỡ được Jibreeh u và sự rộng lượng đó còn nhanh hơn cả gió thổi.

26- Tháng Romadon là tháng học hỏi về Thiên Kinh Qur'an. Trước kia, cứ mỗi năm vào tháng Romadon Jibreel u đến gặp Nabi e vào mỗi đêm để trao đổi nhau kiến thức Qur'an còn Nabi e thì đọc Qur'an cho Jibreel u nghe như được nhắc trong Hadith sau:

عَنِ ابْنِ عَبَّاسٍ i قَالَ: (كَانَ رَسُولُ اللهِ m أَجْوَدَ النَّاسِ، وَكَانَ أَجْوَدُ مَا يَكُونُ فِى رَمَضَانَ حِينَ يَلْقَاهُ جِبْرِيلُ، وَكَانَ يَلْقَاهُ فِى كُلِّ لَيْلَةٍ مِنْ رَمَضَانَ فَيُدَارِسُهُ الْقُرْآنَ، فَلَرَسُولُ اللهِ m أَجْوَدُ بِالْخَيْرِ مِنَ الرِّيحِ الْمُرْسَلَةِ.) وفي لفظ: (فَإِذَا لَقِيَهُ جِبْرِيلُ u كَانَ أَجْوَدَ بِالْخَيْرِ مِنَ الرِّيحِ الْمُرْسَلَةِ) متفق عليه: البخاري كتاب بدء الوحي، باب كيف كان بدء الوحي، وكتاب الصوم، باب أجود ما كان النبي e يكون في رمضان، برقم 1902، وكتاب بدء الخلق، باب ذكر الملائكة، برقم 3220، وكتاب المناقب، باب صفة النبي e ، برقم 3554، وكتاب فضائل القرآن، باب كان جبريل يعرض القرآن على النبي e، برقم 4997، ومسلم كتاب الفضائل، باب جوده e ، برقم 2308.   

"Trước kia, Nabi e rộng lượng nhất nhân loại, đặc biệt là trong tháng Romadon khi Jibreel đến gặp Người vào mỗi đêm trong Romadon, cả hai trao đổi nhau về Qur'an và sự rộng lượng đó còn nhanh hơn cả gió thổi." Theo đường truyền khác: "Khi Nabi e gặp được Jibreel thì sự rộng lượng của Người thể hiện nhanh hơn cả gió."([68]

عَنْ فَاطِمَةَ i أَسَرَّ إِلَىَّ النَّبِىُّ m: ((أَنَّ جِبْرِيلَ كَانَ يُعَارِضُنِى بِالْقُرْآنِ كُلَّ سَنَةٍ، وَإِنَّهُ عَارَضَنِى الْعَامَ مَرَّتَيْنِ، وَلاَ أُرَاهُ إِلاَّ حَضَرَ أَجَلِى)) البخاري، كتاب فضائل القرآن، بابٌ: كان جبريل يعرض القرآن على النبي e ، قبل الحديث رقم 4997، والحديث رقم 4998.

Bà Fatimah i kể: Nabi m nói nhỏ với tôi: "Cứ hằng năm một lần Jibreel đến trao đổi Qur'an cùng Ta nhưng năm nay lại trao đổi với Ta hai lần và Ta nghĩ đó cũng gần mãn hạn của Ta."([69])

27- Nhịn chay Romadon là một trong năm nền tản (trụ cột) của Islam và đức tin của người Muslim không được hoàn hảo đến khi thi hành nền tảng này như được nhắc trong Hadith sau:

عَنْ عَبْدِ اللهِ بِنْ عُمَرَ k قَالَ: قَالَ رَسُولُ اللهِ :ﷺ‬ ((بُنِيَ الإِسْلاَمُ عَلَى خَمْسٍ: شَهَادَةِ أَنْ لاَ إِلَـٰهَ إِلاَّ اللهُ وَأَنَّ مُحَمَّدًا رَسُولُهُ وَإِقَامِ الصَّلاَةِ وَإِيتَاءِ الزَّكَاةِ وَصَوْمِ رَمَضَانَ وَحَجِّ الْبَيْتِ الحَرَامِ)) متفق عليه: البخاري، كتاب الإيمان، باب دعاؤكم إيمانكم، برقم 8، ومسلم، كتاب الإيمان، باب أركان الإسلام ودعائمه العظام، برقم 16.

Ông Abdullah bin Umar k thuật lại lời Rosul ﷺ‬: "Islam được xây dựng trên năm trụ cột (nền tảng): lời tuyên thệ không có Thượng Đế nào xứng đáng được thờ phụng mà chỉ có Allah duy nhất và Muhammad là Thiên Sứ của Allah, dâng lễ Solah, xuất Zakat bắt buộc, nhịn chay tháng Romadon và hành hương (Haj) tại ngôi đền Ka'bah."([70]

 28- Tháng Romadon là tháng Étikaaf và tạm trú tại Masjid để qui phục Allah và để tìm sự cứu rỗi từ Allah như được nhắc trong Hadith sau:

عَنْ عَائِشَةَ i زَوْجِ النَّبِيِّ m: (أَنَّ النَّبِيَّ m كَانَ يَعْتَكِفُ الْعَشْرَ الأَوَاخِرَ مِنْ رَمَضَانَ، حَتَّى تَوَفَّاهُ اللهُ، ثُمَّ اعْتَكَفَ أَزْوَاجُهُ مِنْ بَعْدِهِ) متفق عليه: البخاري، كتاب الاعتكاف، باب الاعتكاف في العشر الأواخر، برقم 2026، ومسلم، كتاب الاعتكاف، باب اعتكاف العشر الأواخر من رمضان، برقم 1172.

Bà A-y-shah i vợ của Nabi m kể: "Trước kia, Nabi m Étikaaf vào mười ngày cuối của Romadon đến khi trở về với Allah, sau đó các bà vợ của Nabi m Étikaaf sau khi Người qua đời."([71]

عَنْ أَبِى هُرَيْرَةَ t قَالَ: (كَانَ النَّبِىُّ e يَعْتَكِفُ فِى كُلِّ رَمَضَانَ عَشْرَةَ أَيَّامٍ، فَلَمَّا كَانَ الْعَامُ الَّذِى قُبِضَ فِيهِ اعْتَكَفَ عِشْرِينَ يَوْمًا) البخاري، كتاب الاعتكاف، باب الاعتكاف في العشر الأوسط من رمضان، برقم 2044.

Ông Abu Huroiroh t kể: "Trước kia, khi Romadon đến Nabi m chỉ Étikaaf mười ngày, cho đến khi năm mà Người mất Người lại Étikaaf hai mươi ngày."([72])

عَنْ أَبِى هُرَيْرَةَ t قَالَ: ((كَانَ يَعْرِضُ عَلَى النَّبِىِّ e الْقُرْآنَ كُلَّ عَامٍ مَرَّةً، فَعَرَضَ عَلَيْهِ مَرَّتَيْنِ فِى الْعَامِ الَّذِى قُبِضَ، وَكَانَ يَعْتَكِفُ كُلَّ عَامٍ عَشْرًا، فَاعْتَكَفَ عِشْرِينَ فِى الْعَامِ الَّذِى قُبِضَ فِيهِ) البخاري، كتاب فضائل القرآن، باب كان جبريل يعرض القرآن على النبي e، برقم 4998.

Cũng ông Abu Huroiroh t kể: "Trước kia, cứ mỗi năm Nabi m được trao dồi Qur'an một lần, đến khi năm Người mất được trao dồi đến hai lần và trước kia Người chỉ Étikaaf có mười ngày nhưng đến năm Người mất lại Étikaaf hai mươi ngày."([73]) tức Étikaaf từ ngày 11 đến cuối tháng.

 29- Tháng Romadon là tháng năng nổ làm sự tôn thờ bởi Nabi m rất năng nổ trong mười ngày cuối hơn hẳn những ngày tháng khác như được nhắc trong Hadith sau:

عَنْ عَائِشَةَ i قَالَتْ: (كَانَ رَسُولُ اللهِ m يَجْتَهِدُ فِى الْعَشْرِ الأَوَاخِرِ مَا لاَ يَجْتَهِدُ فِى غَيْرِهِ) مسلم،كتاب الاعتكاف، باب الاجتهاد في العشر الأواخر من رمضان، برقم 1175.

Bà A-y-shah i kể: "Trước kia, Nabi m rất năng nổ trong mười ngày cuối (Romadon) mà những ngày tháng khác không bằng."([74]

عَنْ عَائِشَةَ i قَالَتْ: ((كَانَ رَسُولُ اللهِ m إِذَا دَخَلَ الْعَشْرُ أَحْيَا اللَّيْلَ وَأَيْقَظَ أَهْلَهُ وَجَدَّ وَشَدَّ الْمِئْزَرَ)) متفق عليه: البخاري، كتاب فضل ليلة القدر، باب العمل في العشر الأواخر من رمضان، برقم 2024،ومسلم، كتاب الاعتكاف، باب الاجتهاد في العشر الأواخر من رمضان، برقم 1174.

Cũng bà A-y-shah i kể: "Trước kia, khi bước vào mười ngày cuối (Romadon) Nabi e dâng lễ suốt đêm, đánh thức gia đình và không gần gủi với vợ."([75])

عَنْ عَائِشَةَ i أَنَّ رَسُولَ اللهِ m قَالَ: ((تَحَرَّوْا لَيْلَةَ الْقَدْرِ فِى الْوِتْرِ مِنَ الْعَشْرِ الأَوَاخِرِ مِنْ رَمَضَانَ)) وفي لفظ: ((تَحَرَّوْا لَيْلَةَ الْقَدْرِ فِى الْعَشْرِ الأَوَاخِرِ مِنْ رَمَضَانَ)) البخاري، كتاب فضل ليلة القدر، باب تحرِّي ليلة القدر في الوتر من العشر الأواخر، برقم 2017، ورقم 2020.

Cũng bà A-y-shah i thuật lại lời Nabi e: "Hãy tìm kiếm đêm định mệnh trong những ngày lẻ vào mười ngày cuối Romadon." Có đường truyền khác: "Hãy tìm kiếm đêm định mệnh vào mười cuối tháng Romadon."([76])

Trước kia, giới Sohabah rất năng nổ rất lạ thường vào mười ngày cuối và có lần bà A-y-shah i hỏi Nabi e: thưa Rosul! Nếu tôi biết được đêm nào là đêm định mệnh thì tôi sẽ cầu xin gì ? Nabi e đáp:

 ((قُولِي: اللهُمَّ إنَّك عَفُوٌّ تُحِبُّ الْعَفْوَ فَاعْفُ عَنِّي)) الترمذي، كتاب الدعوات، باب في فضل سؤال العافية، والمعافاة، برقم 3513، ورواه بقية الخمسة، وحسنه الترمذي، فقال: ((حسن صحيح ))، وصححه الألباني في صحيح سنن الترمذي، 3/446. 

"Hãy nói: اللهُمَّ إنَّك عَفُوٌّ تُحِبُّ الْعَفْوَ فَاعْفُ عَنِّي (Ol-lo-hum-ma in-na-ka a'-fu-vun tu-híp-bul a'f-va fa'-fu a'n-ny." (ý nghĩa: Thưa Allah! Ngài là Đấng Từ Bi rất yêu thương sự tha thứ, xin Ngài hãy tha thứ cho bề tôi)([77])

30- Xả chay không có lý do chính đáng trong tháng Romadon không giống như xả chay vào những ngày khác như được khuyến cáo ở Hadithe sau: ông Abu Umamah Al-Bahily t kể: tôi đã nghe Nabi e kể rằng:

عَنْ أَبِي أُمَامَةَ الْبَاهِلِىُّ t قَالَ سَمِعْتُ رَسُولَ اللهِ e يَقُولُ: ((بَيْنَا أَنَا نَائِمٌ إِذْ أَتَانِى رَجُلاَنِ فَأَخَذَا بِضَبْعَىَّ فَأَتَيَا بِى جَبَلاً وَعْرًا فَقَالاَ لِىَ: اصْعَدْ فَقُلْتُ: إِنِّى لاَ أُطِيقُهُ فَقَالاَ: إِنَّا سَنُسَهِّلُهُ لَكَ فَصَعِدْتُ حَتَّى إِذَا كُنْتُ فِى سَوَاءِ الْجَبَلِ إِذَا أَنَا بَأَصْوَاتٍ شَدِيدَةٍ فَقُلْتُ: مَا هَذِهِ الأَصْوَاتُ قَالُوا: هَذَا عُوَاءُ أَهْلِ النَّارِ، ثُمَّ انْطُلِقَ بِى فَإِذَا أَنَا بِقَوْمٍ مُعَلَّقِينَ بِعَرَاقِيبِهِمْ مُشَقَّقَةٌ أَشْدَاقُهُمْ تَسِيلُ أَشْدَاقُهُمْ دَمًا قَالَ قُلْتُ: مَنْ هَؤُلاَءِ قَالَ: هَؤُلاَءِ الَّذِينَ يُفْطِرُونَ قَبْلَ تَحِلَّةِ صَوْمِهِمْ)) أخرجه ابن خزيمة، والحاكم، 1/430، و 2/209، وصححه الألباني في صحيح الترغيب والترهيب، 1/588.

"Trong lúc Ta đang ngủ bổng thấy xuất hiện hai người đàn ông đến dẫn Ta đến một ngọn núi đá lởm chởm, cả hai bảo Ta: hãy leo lên đi. Ta đáp: Tôi không thể leo được. Hãy leo đi chúng tôi hổ trợ cho, hai người đáp lại Ta. Khi Ta leo được khoảng chừng núi bổng nghe được tiếng la rất inh ỏi, Ta hỏi: đây là tiếng gì vậy. Họ đáp: đó là tiếng rên la của những người hỏa ngục. Hai người họ tiếp tục đưa Ta đi, Ta thấy được nhóm người bị treo tòn ten bằng những sợi gân rút từ hàm răng dưới của họ và máu chảy từ những hàm răng dưới đó, Ta hỏi: họ là ai vậy? Hai người họ đáp: Đây là những người xả chay trước giờ được phép xả chay."([78])

Cầu xin Allah ban bình an và phúc lành cho Nabi Muhammad cùng gia quyến và toàn thể Sohabah của Người cho đến ngày tận thế.



([1]) Ông Ibnu Manzur định nghĩa trong bộ Lisan Al-Arập: "Nhịn chay là không ăn, không uống và không nói chuyện. Nhịn chay theo nghĩa Arập: là kiêng cử và từ bỏ điều gì đó, gọi người nhịn chay là người nhịn chay là bởi y kiêng không ăn, không uống và không kết hôn. Có người cho rằng nhịn chay là sự kiêng không nói chuyện... còn ông Abu ﷻ‬'baidah nói: tất cả ai không ăn, không uống và không đi thì đươc gọi là nhịn chay."

([2]) Trích từ quyển Al-Ta'rifat của Al-Jarjany trang 177 và trong bộ Al-Misbaah Al-Muneer của Al-Faiyumy quyển 1 trang 352.

([3]) Trích từ bộ Al-Mụny của Ibnu Qudamah quyển 4 trang 323 và bộ Al-Sharh Al-Kabeer quyển 7 trang 323.

([4]) Trích từ bộ Al-Insof để biết về câu nói mạnh nhất trong các chủ đề tranh cải của Al-Mardawy quyển 7 trang 323.

([5]) Trích từ bộ Giáo Lý Tổng Hợp quyển 7 trang 28.

([6]) Trích từ bộ Al-Râdh Al-Murba' và chú thích của Ibnu Qosim quyển 3 trang 346, bộ Muntaha Al-Irodat của Muhammad bin Ahmad Al-Futuhy quyển 2 trang 5 và bộ Al-Iqnaa' nhằm bồi dưỡng cho nghiên cứu của Hajjawy quyển 1 trang 485.

([7]) Trích từ chương Nhịn Chay của bộ Sharh Al-Umdah của Shaikh Al-Islam Ibnu Taimiyah quyển 1 trang 24.

([8]) Shaikh Al-Islam Ibnu Taimiyah nói: "Và trong những điều kiêng cử là kiêng nói bậy, nói vô ý thức ngoài ra còn kiêng luôn những lời nói Harom và không nên nói. Bởi kiêng những điều này trong suốt thời gian nhịn quan trọng hơn những thời gian không nhịn". Trích từ chương Nhịn Chay của bộ Sharh Al-Umdah của Shaikh Al-Islam Ibnu Taimiyah quyển 1 trang 24.

([9]) Tham khảo bộ Al-Sharh Al-Mumté' của Ibnu Uthaimeen quyển 6 trang 310 và quyển Al-Ilmaam Bi Shai Min Ahkaam Al-Siyaam của Abdul Azeez bin Abdullah Al-Rojihy trang 7.

([10]) Hadith do Ahmad ghi lại ở quyển 23 trang 33 Hadith số 14669 và trang 411 Hadith số 15264. Giới xác thực bộ Al-Musnad nói: "Đây là Hadith Soheeh (chính xác) bởi những đường truyền và sự dẫn chứng của nó."

([11]) Hadith do Al-Tirmizy ghi lại ở phần Solah, chương nhắc về ân phước của Solah, Hadith số 614 và Ahmad ghi lại ở quyển 22 trang 332, Hadith số 14441 và đã được Al-Albany xác thực trong bộ Soheeh Al-Tirmizy quyển 1 trang 336. Hadith mang ý nghĩa: khuyến cáo tin tưởng làm theo mệnh lệnh ngu xuẩn và trợ giúp sự bất công của họ.

([12]) Hadith do Ahmad ghi lại quyển 26 trang 202 Hadith số 6273 và quyển 26 trang 205 Hadith số 16278 và quyển 29 trang 433 Hadith số 17902 và đường truyền Hadith đã được giới xác thực bộ Musnad của Imam Ahmad xét duyệt.

([13]) Hadith do Ahmad ghi lại quyển 15 trang 123 Hadith số 9225 và đường truyền Hadith đã được giới xác thực bộ Musnad của Imam Ahmad xét duyệt ở quyển 15 trang 123, ông Al-Munziry cho đây là Hadith Hasan (đúng) và Al-Albany nói trong Soheeh Al-Targheeb và Al-Tarheeb quyển 1 trang 578: "Hadith được nhiều người khác cho là Hasan (đúng)."

([14]) Hadith do Al-Bukhory ghi lại ở phần Nhịn Chay, chương Nhịn Chay Đối Với Ai Độc Thân Hadith số 1905, và Muslim ghi lại ở phần Hôn Nhân, chương Khuyến Khích Thành Hôn Đối Với Ai Có Khả Năng Về Tài Chính Lẫn Sức Khỏe & Thường Xuyên Nhịn Chay Đối Với Ai Không Có Khả Năng, Hadith số 1400.

([15]) Hadith do Al-Bukhory ghi lại ở phần Thánh Chiến, chương Ân Phước Nhịn Chay Khi Đang Thánh Chiến Vì Allah Hadith số 2840, và Muslim ghi lại ở phần Nhịn Chay, chương Ân Phước Sự Nhịn Chay Khi Đang Thánh Chiến Vì Allah Đối Với Ai Có Năng Lực Không Ảnh Hưởng Đến Sức Khỏe & Nhiệm Vụ, Hadith số 1153.

([16]) Hadith do Al-Tirmizy ghi lại ở phần Ân Phước, phần Thánh Chiến, chương Ân Phước Nhịn Chay Khi Đang Thánh Chính Vì Allah Hadith số 1624, Shaikh Al-Albany nói trong Soheeh Sunnan Al-Tirmizy quyển 2 trang 223: "Hadith Hasan Soheeh." Và tham khảo thêm bộ Hadith Soheeh của Al-Albany Hadith số 563.

([17]) Trích từ bộ Tìm Hiểm Những Gì Còn Khúc Mắc bộ Rút Gọn Sách Của Muslim quyển 3 trang 218.

([18]) Trích từ bộ phân tích Soheeh Muslim của Al-Nawawy quyển 8 trang 218, tham khảo thêm Fath Al-Bary của Ibnu Hajar quyển 6 trang 48.

([19]) Tôi nghe được câu này khi Shaikh đang nhận xét về Soheeh Al-Bukhory Hadith số 2840.

([20]) Hadith do Al-Bukhory ghi lại ở phần Nhịn Chay, chương Cửa Roiyaan Dành Cho Người Nhịn Chay Hadith số 1896 và Muslim ghi lại ở phần Nhịn Chay, chương Ân Phước Nhịn Chay Hadith số 1152.

([21]) Hadith do Al-Bukhory ghi lại ở phần Khởi Đầu Tạo Hóa, chương Hình Dạng Cửa Của Thiên Đàng Hadith số 3257.

([22]) Hadith do Al-Bukhory ghi lại ở phần Nhịn Chay, chương Cửa Roiyaan Dành Cho Người Nhịn Chay Hadith số 1896 và Muslim ghi lại ở phần Zakat Bắt Buộc, chương Ai Bố Thí Nhiều & Có Nhiều Việc Thiện Hadith số 58, 1027.

([23]) Hadih do Muslim ghi lại ở phần xuất Zakat bắt buộc, chương Ân Phước Của Ai Bố Thí & Nhiều Việc Thiện Khác Hadith số 1028.

([24]) Hadith do Al-Bukhory ghi lại ở phần Văn Hóa Của Mỗi Người Hadith số 515 và được Al-Albany xác thực trong bộ Soheeh Al-Adab Al-Mufrid trang 195.

([25]) Hadith do Al-Bukhory ghi lại ở phần Solah, chương lễ Solah là sự xóa tội Hadith số 525, ghi lại ở phần Zakat, chương sự bố thí xóa đi tội lỗi Hadith số 1435, ghi lại ở phần nhịn chay, chương nhịn chay là sự xóa tội lỗi Hadith số 1895 và Muslim ghi lại ở phần Iman chương sự tin cậy và đức tin bị lấy ra khỏi tim của một số người và bị gặp phải thử thách Hadith số 144.

([26]) Tham khảo thêm bộ Fath Al-Bary của Ibnu Hajar quyển 6 trang 605 và tôi nghe được Shaikh Ibnu Baaz nói tương tự như thế khi nhịn định về Soheeh Al-Bukhory Hadith số 1435.

([27]) Hadith do Al-Bukhory ghi lại ở phần Nhịn chay, chương Ân Phước Nhịn Chay Hadith số 1894 và ở chương: Câu: "Quả Thật, Tôi Đang Nhịn Chay" là muốn nói thì nói, Hadith số 1904 và Muslim ghi lại ở phần Nhịn chay, chương bảo vệ cái lưỡi của người nhịn chay Hadith số 1151 và chương Ân Phước Nhịn Chay Hadith số 164 và số 1511.

([28]) Qua Hadith này rút được một số bài học sau:

1-      Sự nhịn chay là của Allah Đấng Tối Cao, duy chỉ mới Ngài ban thưởng cho sự nhịn chay và tất cả mọi việc thiện khác cũng của riêng Allah. Bởi chắc chắn sự nhịn chay không một ai có thể biết được ai đó có nhịn chay thật sự không chỉ ngoại trừ Allah, cho nên người nhịn chay không thể khoe khoan sự nhịn chay của mình bằng hành động mặc dù có thể khoe khoan bằng lời nói giống như việc ai đó nói rằng tôi đang nhịn chay, còn sự nhịn chay thật sự là điều bí mật giửa người nhịn chay với Allah.

2-      Nhịn chay là sự kiên nhẫn chịu đựng cơn hoành hành của đói khát, chính vì sự kiên nhẫn đó mà Allah ban thưởng cho họ một cách không tính toán.

3-      Allah rất thương yêu sự nhịn chay vì vậy mà tuyến nước bọt của người nhịn chay đối với Ngài thơm hơn cả mùi thơm thơm nhất của trần gian.

4-      Nhịn chay là lý do được hưởng niềm hạnh phúc của trần gian và ngày sau, bởi người nhịn chay thấy được niềm vui khi xả chay, đấy chính là hồng ân mà Allah ban cho họ giúp đỡ họ được hoàn thành sự nhịn chay thật xuất sắc và đã xua đuổi khỏi họ sự đói khát. Tùy theo mỗi người mà có một niềm vui riêng, có người vui vẻ khi thấy đã được ăn uống và hết bị cơn đói khát hoành hành và có người vui vẻ bằng niềm vui đáng khích lệ đó là nhờ sự trợ giúp của Allah mà lúc này họ đã hoàn thành được sự nhịn chay và có người vui vẻ bằng cả hai điều. Đối với niềm vui ở ngày sau khi được trình diện với Allah đó là thấy được phần thưởng vĩ đại từ Allah và được Ngài nhắc nhở y về hồng phúc của Ngài mà y đã chiến thắng. Trích từ bộ Sharh Soheeh Muslim của Al-Nawawy quyển 8 trang 277 và bộ Fath Al-Bary của Ibny Hajar quyển 4 trang 107 – 110 và quyển 7 trang 118.

([29]) Hadith do Ahmad ghi lại trong bộ Musnad quyển 2 trang 174, và Hadith ghi lại ở quyển 1 trang 554 và Shaikh Al-Albany nói trong Soheeh Al-Targheeb và Al-Tarheeb quyển 1 trang 579: "Đây là Hadith Hasan Soheeh."

([30]) Hadith do Ahmad ghi lại trong bộ Musnad quyển 38 trang 168 Hadith số 3070 và số 23077 và ghi trong quyển 34 trang 240 Hadith số 20737.

([31]) Hadith do Al-Tirmizy ghi lại ở phần Iman, chương những điều cấm của Solah Hadith số 2616, Shaikh Al-Albany nói trong bộ Soheeh Al-Targheeb và Al-Tarheeb quyển 1 trang 578: "Hadith Soheeh vì Hadith khác."

([32]) Hadith do Ahmad ghi lại ở quyển 5 trang 391 và trong bộ xác thực lại ở quyển 38 trang 350 Hadith số 23324. Giới xác thực bộ Al-Musnad nói: "Hadith Soheeh vì Hadith khác." Và Shaikh Al-Albany cũng đã xác thực trong bộ Soheeh Al-Targheeb và Al-Tarheeb quyển 1 trang 579.

([33]) Hadith do Al-Bukhory ghi lại ở phần bắt đầu tạo hóa, chương nhắc đến các Thiên Thần, Hadith số 3208 và Muslim ghi lại ở phần định mệnh, chương tạo hóa con người trong bụng của người mẹ ra sao và sự định đoạt về bổng lộc, tuổi thọ, việc làm và bất hạnh hay hạnh phúc của y, Hadith số 1 và 2643.

([34]) Hadith do Ahmad ghi lại ở quyển 6 trang 125 Hadith số 3624 Hadith đã qua xác thực.

([35]) Hadith do Ahmad ghi lại ở quyển 5 trang 343, Ibnu Hibbaan ghi lại ở bộ Mawarid Hadith số 641, Al-Tirmizy ghi lại từ Aly t ở phần tả về thiên đàng, chương tả về các phòng của thiên đàng Hadith số 2527 và đã được Al-Albany xác minh trong bộ Soheeh Al-Tirmizy quyển 3 trang 7 và trong bộ Soheeh Al-Jamé quyển 2 trang 220 Hadith số 2119.

([36]) Tham khảo thêm bộ Phân Tích giáo lý tuyên truyền trong Soheeh Al-Bukhory quyển 2 trang 773 – 774.

([37]) Hadith do Ibnu Majah ghi lại ở phần Nhịn Chay, chương Người Nhịn Chay Không Bị Khước Từ Lời Cầu Xin Hadith số 1752, Al-Tirmizy ghi lại ở phần Cầu Xin, chương Sabaq Al-Mufridun Hadith số 3598 và ghi lại ở phần Tả Về Thiên Đàng Hadith số 2526, Ahmad ghi lại Hadith số 9743 trong quyển 15 trang 463 và trong bộ Mutawwal quyển 13 trang 410 Hadith số 8043, Shaikh Al-Albany xác thực trong Soheeh Ibnu Majah quyển 2 trang 86 tất cả những đường truyền này thuật lại: "và người nhịn chay đến khi xả chay..." ngoại trừ trong Sunnan Al-Tirmizy xuất bản tại Dar Al-Salaam ở Hadith số 2526 và Hadith số 3598 thì ghi: "... khi xảy chay", nhưng theo sự xác thực của Ahmad Shakir thì nói: Hadith số 2526 thì ghi: "... khi xảy chay" còn Hadith số 3698 thì ghi: "đến khi xả chay..."

([38]) Hadith do Ibnu Majah ghi lại ở phần Nhịn Chay, chương Người Nhịn Chay Không Bị Khước Từ Lời Cầu Xin Hadith số 1753, Al-Hakim ghi lại ở quyển 1 trang 422, Ibnu Hajar đã xác minh trong bộ Al-Futuhat Al-Rabbaniyah quyển 4 trang 342, Al-Albany xác minh trong Soheeh Al-Jamé Hadith số 4554 và trong quyển Mishkaah Al-Masobeeh Hadith số 1993 nhưng Shaikh đã cho rằng đây là Hadith Do-if (không chính xác) trong quyển Ir-wa Al-Gholeel Hadith số 921 và Do-if Sunan Ibnu Majah trang 137.

([39]) Hadith do Ahmad ghi lại Hadith số 22202, giới xác minh bộ Al-Musnad nói: "Hadith Soheeh vì Hadith khác."

([40]) Hadith do Al-Tirmizy ghi lại ở phần Nhịn Chay, chương Ân Phước Cho Thức Ăn Người Nhịn Xả Chay Hadith số 807, Ibnu Majah ghi lại ở phần Nhịn Chay, chương Phần Thưởng Cho Thức Ăn Người Nhịn Chay xả Chay Hadith số 1746 và Al-Albany xác thực trong Soheeh Sunan Al-Tirmizy quyển 1 trang 424.

([41]) Hadith do Al-Bukhory ghi lại ở phần Nhịn Chay, chương ai không bỏ lời dối trá ngược lại còn hành động như thế khi đang nhịn chay Hadith số 1903.

([42]) Hadith do Al-Bukhory ghi lại ở phần Nhịn Chay, chương Nhịn Chay Đối Với Ai Độc Thân Hadith số 1905, và Muslim ghi lại ở phần Hôn Nhân, chương Khuyến Khích Thành Hôn Đối Với Ai Có Khả Năng Về Tài Chính Lẫn Sức Khỏe & Thường Xuyên Nhịn Chay Đối Với Ai Không Có Khả Năng, Hadith số 1400.

([43]) Trích từ Ba-da-é Al-So-na-é quyển 2 trang 75 và bộ bách hóa toàn thư giáo lý Islam quyển 28 trang 9.

([44]) Hadith do Al-Bukhory ghi lại ở phần Al-Étikaaf, chương Người Étikaaf có được phép ra đến của Masjid có chuyện cần? Hadith số 2035 và Muslim ghi lại ở phần Al-Salam, Hadith số 2178.

([45]) Tham khảo thêm bộ bách hóa toàn thư giáo lý Islam quyển 28 trang 8.

([46]) Hadith do Ahmad ghi lại ở quyển 4 trang 107 và trong bộ Al-Muhaqquq quyển 28 trang 191 Hadith số 16984. Giới xác thực bộ Al-Musnad nói: "Đây là Hadith yếu." nhưng Shaikh Al-Albany thì nói: "Đường truyền của Hadith là Hasan và những người truyền lại Hadith là trung thực đáng tin." Trích từ những Hadith Soheeh của Al-Albany Hadith số 1575.

([47]) Câu: Shayton và ma quỉ bị xiềng xích, vậy tại sao chúng tôi vẫn thấy những điều xấu xa tội lỗi vẫn xảy ra rất nhiều trong tháng Romadon, nếu như Shayton và ma quỉ đã bị xiềng xích thì những điều này sẽ không xảy ra mới đúng ?

Đáp: Đúng Shayton và ma quỉ bị xiềng xích nhưng chỉ xiềng xích đối với ai luôn có ý định bảo vệ và tôn trọng sự nhịn chay hoặc là một số Shayton bị xiềng xích chứ không phải tất cả như đã được dẫn chứng qua một số Hadith hoặc Hadith mang ngụ ý là những điều xấu xa tội lỗi ít xảy ra hơn bao tháng khác như ta đã thấy. Và cho dù tất cả Shayton và ma quỉ có bị xiềng xích hết đi chăng thì những điều xấu xa tội lỗi cũng không ngừng xảy ra bởi những điều đó xảy ra ngoài lý do bị Shayton cám dỗ như: con người có tâm địa xấu xa, những phong tục tập quán đáng bị lên án và có cả một số người còn hơn là Shayton ma quỉ. Trích từ bộ tìm hiểu điều rắc rối khi rút gọn bộ Soheeh Muslim của Al-Qurtuby quyển 3 trang 136, bộ Sharh Soheeh Muslim quyển 7 trang 149 và bộ Fath Al-Bary của Ibnu Hajar quyển 4 trang 114.

([48]) Hadith do Al-Bukhory ghi lại ở phần Nhịn Chay, chương gọi sao cho đúng Romadon hay tháng Romadon Hadith số 1898 và số 1899, Muslim ghi lại ở phần Nhịn Chay, chương Đặc Ân Romadon Hadith số 2 và số 1079, Al-Tirmizy ghi lại và lời Hadith của ông Hadith số 682 và Al-Nasa-y ghi lại số 2097.

([49]) Hadith do Nasa-y ghi lại ở phần Nhịn chay, chương Sự khác nhau về tuổi thọ Hadith số 2108 và Ahmad ghi lại ở phần 7148, Shaikh Al-Albany nói trong Soheeh Ibnu Majah quyển 2 trang 456: "Hadith Hasan Soheeh."

([50]) Hadith do Ibnu Majah ghi lại ở phần Nhịn chay, chương Đặc ân tháng Romadon Hadith số 1644, Shaikh Al-Albany nói trong Soheeh Ibnu Majah quyển 2 trang 159: "Hadith Hasan Soheeh."

([51]) Hadith do Ahmad ghi lại trong quyển 12 trang 420 Hadith số 7450, giới xác thực bộ Al-Musnad nói trong quyển 12 trang 420: "Đường truyền của Hadith đúng theo điều kiện của Al-Bukhory và Muslim và sự nghi vấn về vị Sohabah không gây ảnh hưởng gì cả."

([52]) Hadith do Al-Baraaz ghi lại trong quyển Kashf Al-Astaar Hadith số 962, Ibnu Hajar nhắc trong quyển rút gọn những phần dư trong Musnad Al-Baraaz về Al-Kutub Al-Sittah và Musnad Ahmad Hadith số 664 và Al-Albany nói trong Soheeh Al-Targheeb và Al-Tarheeb quyển 1 trang 586: "Hadith Soheeh vì Hadith khác."

([53]) Hadith do Ibnu Majah ở phần Nhịn Chay, chương Ân Phước tháng Romadon Hadith số 1643, Al-Albany nói trong Soheeh Ibnu Majah quyển 2 trang 59: "Hasan Soheeh."

([54]) Hadith do Ahmad ghi lại trong bộ Musnad quyển 38 trang 168 Hadith số 3070 và số 23077 và ghi trong quyển 34 trang 240 Hadith số 20737.

([55]) Hadith do Muslim ghi lại ở phần Al-Toharoh, chương lễ Solah năm lần, thứ sáu đến thứ sáu và Romadon đến Romadon, Hadith số 233.

([56]) Câu: "Ai nhịn chay vào tháng Romadon bằng sự tin tưởng" tức tin tưởng vào Allah, tin tưởng vào giáo lý của Ngài, hài lòng chấp nhận nó, thể hiện ra bề ngoài và kỳ vọng vào sự ban thưởng của Allah dành cho sự nhịn chay và đứng dâng lễ Solah (Taroweeh) và bất cứ ai đứng dâng lễ Solah trong Romadon hay vào đêm Định Mệnh trong lòng có được đức tin và sự kỳ vòng trên chắc chắn sẽ được Allah tha thứ tất cả tội lỗi đã phạm trong quá khứ, nếu chúng ta bỏ chút thời gian nhìn lại quá khứ sẽ thấy được rằng đây là tháng hồng ân đã mang lại rất nhiều cơ hội vô cùng quí báu, là niềm vui sướng của người có đức tin khi được nhắc đến tháng Romadon này bởi trong tháng mang đến biết bao là kết quả tốt đẹp.

([57]) Hadith do Al-Bukhory ghi lại ở phần Nhịn Chay, chương Nhịn chay Romadon kỳ vọng và tin tưởng Hadith số 38 và Muslim ghi lại ở phần Solah dành cho du hành, chương khuyến khích đứng dâng lễ Solah trong Romadon và đó là Solah Al-Taroweeh Hadith số 860.

([58]) Hadith do Ibnu Khuzaimah ghi lại ở quyển 3 trang 192, Ahmad ghi lại ở quyển 2 trang 246, Al-Baihaqi ghi lại ở quyển 4 trang 304, Al-Bukhory ghi lại ở phần văn hóa cá nhân Hadith số 646 và Al-Albany nói trong Soheeh Al-Adab Al-Mufrid: "Hasan Soheeh" và Hadith này vốn được ghi lại trong Soheeh Muslim Hadith số 2551.

([59]) Hadith do Al-Tirmizy ghi lại ở phần Kêu Gọi, chương khốn khổ cho ai khi được nhắc Ta trước mặt y mà y vẫn không cầu xin bình an cho Ta, Hadith số 3545 và Al-Albany nói trong Soheeh Al-Tirmizy quyển 3 trang 457: "Hasan Soheeh."

([60]) Hadith do Ibnu Majah ghi lại ở phần phân tích giấc mộng Hadith số 3925 và được Al-Albany xác thực trong Soheeh Sunan Al-Na-sa-y quyển 3 trang 284.

([61]) Hadith do Al-Bukhory ghi lại ở phần Umroh, chương Umroh trong Romadon Hadith số 1782 và ở phần phần thưởng săn bắn, chương Haj của phụ nữ Hadith số 1863 và Muslim ghi lại ở phần Haj, chương ân phước Umroh trong Romadon, Hadith số 1256.

([62]) Hadith do Ibnu Hibbaan ghi lại Hadith số 19, Ibnu Khuzaimah ghi lại ở quyển 3 trang 340 Hadith số 2212 và Al-Albany nói: "đường truyền Hadith Hasan." (trích từ phần chú thích của Al-Albany trong Soheeh Ibnu Khuzaimah quyển 3 trang 340)

([63]) Hadith do Muslim ghi lại ở phần Iman, chương phân tích đức tin được vào thiên đàng và bám chặt lấy những gì được nhận lệnh được vào thiên đàng, Hadith số 15.

([64]) Hadith do Al-Bukhory ghi lại ở phần Solah Al-Taroweeh, chương ân phước ai đứng dâng lễ trong Romadon Hadith số 2009 và Muslim ghi lại ở phần Solah dành cho đi đường, chương khuyến khích đứng dâng lễ Solah Taroweeh tháng Romadon Hadith số 759.

([65]) Trích từ bộ phân tích Soheeh Muslim của Al-Nawawy quyển 6 trang 286.

([66]) Hadith do Al-Bukhory ghi lại ở phần Al-Ju-mu-a'h, chương nói Khutbah sau khi tạ ơn Allah nói câu: Amma Ba'd, Hadith số 934 và Muslim ghi lại ở chương Solah dành cho đi đường, chương khuyến khích đứng dâng lễ Solah Taroweeh trong Romadon Hadith số 761.

([67]) Hadith do Ahmad ghi lại ở quyển 5 trang 159, Abu Dawud ghi lại ở phần tháng Romadon, chương đứng dâng lễ Solah Romadon Hadith số 1375, Al-Nasa-y ghi lại ở phần đứng dâng lễ Sunnah trong đêm và ngày, chương đứng dâng lễ tháng Romadon Hadith số 1605, Al-Tirmizy ghi lại ở phần nhịn chay, chương nói về sự dâng lễ tháng Romadon Hadith số 806, Ibnu Majah ghi lại ở phần đứng dâng lễ Solah Sunnah, chương nói về sự dâng lễ tháng Romadon Hadith số 1327 và Hadith đã được Al-Albany xác thực trong Soheeh Sunnan Al-Nasa-y quyển 1 trang 353 và trong những bộ sách khác.

([68]) Hadith do Al-Bukhory ghi lại ở phần bắt đầu lời mặc khải, chương lời mặc khải bắt đầu ra sao, ghi lại ở phần nhịn chay chương Nabi e là Người rộng lượng nhất trong tháng Romadon Hadith số 1902, ghi lại ở phần bắt đầu tạo hóa, chương kể về thế giới Thiên Thần Hadith số 3220, ghi lại ở phần phẩm chất cao quí, chương tả về Nabi e Hadith số 3554, ghi lại ở phần đặc ân Qur'an, chương Jibreel trình bày Qur'an cho Nabi e Hadith số 4997 và Muslim ghi lại ở phần ân phước, chương sự rộng lượng của Nabi e Hadith số 2308.

([69]) Hadith do Al-Bukhory ghi lại ở phần đặc ân Qur'an, chương Jibreel trình bày Qur'an cho Nabi e Hadith số 4997 và số 4998.

([70]) Hadith do Al-Bukhory ghi lại ở phần Iman, chương lời cầu xin của các người đức tin của các người Hadith số 8 và Muslim ghi lại ở phần Iman, chương nền tảng Islam Hadith số 16.

([71]) Hadith do Al-Bukhory ghi lại ở phần Étikaaf, chương Étikaaf vào mười ngày cuối Hadith số 2026 và Muslim ghi lại ở phần Étikaaf chương Étikaaf vào mười ngày cuối tháng Romadon Hadith số 1172.

([72]) Hadith do Al-Bukhory ghi lại ở phần Étikaaf, chương Étikaaf vào mười ngày giửa Romadon Hadith số 2044.

([73]) Hadith do Al-Bukhory ghi lại ở phần đặc ân Qur'an, chương Jibreel trình bày Qur'an cho Nabi e Hadith số 4998.

([74]) Hadith do Muslim ghi lại ở phần Étikaaf, chương năng nổ trong mười ngày cuối Romadon Hadith số 1175.

([75]) Hadith do Al-Bukhory ở phần ân phước đêm định mệnh, chương việc làm trong mười ngày cuối Romadon Hadith số 2024 và Muslim ở phần Étikaaf chương cố gắng trong mười ngày cuối Romadon Hadith số 1174.

([76]) Hadith do Al-Bukhory ghi lại ở phần ân phước đêm định mệnh, chương tìm đêm định mệnh vào mười ngày cuối Hadith số 2018 và Hadith số 2020.

([77]) Hadith do Al-Tirmizy ghi lại ở phần cầu xin, chương đặc ân cầu xin lượng thứ và khoan hồng Hadith số 3513 và được ghi lại trong năm bộ Sunnan khác, với Hadith này được Al-Tirmizy xác thực và nói: "Hasan Soheeh." Và Hadith đã được Al-Albany xác thực trong Soheeh Sunan Al-Tirmizy quyển 3 trang 446.

([78]) Hadith do Ibnu Khuzaimah ghi lại ở quyển 1 trang 430 và Al-Hakim ghi lại ở quyển 2 trang 209 và Al-Albany xác thực trong Soheeh Al-Targheeb và Al-Tarheeb quyển 1 trang 588.