Islam & Phụ Nữ ()

 

|

 Islam & Phụ Nữ

Nhân danh Allah

Đấng Rất mực Độ lượng

Đấng Rất mực Khoan dung

 Quyền thừa kế của phụ nữ trong Islam và các tôn giáo khác

Kẻ thù của Islam luôn nhận thức được rằng phụ nữ Muslim đóng vai trò quan trọng đối với cộng đồng và tôn giáo của cô ta. Chính vì vậy mà cuộc chiến tập trung vào phụ nữ Muslim nhằm mục đích phá hại và hủy hoại bản chất đích thực của người phụ nữ Muslim, bởi lẽ nếu một người đàn ông trở nên hư đốn thì y chỉ làm hư đốn cho chính bản thân y nhưng nếu một người phụ nữ hư đốn thì cô ta sẽ làm hư toàn bộ gia đình của cô ta.

Một trong những hình thức khẩu chiến nhằm vào phụ nữ Muslim là cố gắng lôi kéo họ ra khỏi vòng giáo lý Islam; cố gắng tìm cách dùng lý lẽ xảo luận để bóp méo và xuyên tạc mục đích làm thay đổi tư tưởng và đức tin của phụ nữ Muslim khiến họ ghét bỏ các giáo điều của Islam.

Kẻ thù của Islam lấy cớ cho rằng tôn giáo Islam đã bất công với địa vị của người phụ nữ, họ cho rằng Islam đã áp bức, chèn ép quyền lợi của phụ nữ. Một trong những thí dụ điển hình nhất về việc họ đã tố cáo Islam bất công, chèn ép và áp bức phụ nữ là nói rằng giáo lý Islam cho quyền thừa kế của đàn ông hơn phụ nữ trong việc thừa hưởng tài sản thừa kế. Họ khẳng định rằng Islam lúc nào cũng cho nữ giới bằng một nửa của nam giới. Đây hoàn toàn là điều dối trá, là lời đồn thổi xuyên tạc cho tôn giáo Islam, là một sự ngộ nhận thiếu hiểu biết. Thực chất của sự việc không phải là như thế mà Islam được Thượng Đế đặt trong nó một nguyên tắc hoàn toàn công bằng trong cư xử, đó là: “Ngang bằng giữa tương đồng và khác biệt giữa không tương đồng”.

Đây mới chính là đích thực của sự công bằng và bình đẳng mà con người thực sự cần, với nó lương tâm con người hài lòng, tâm trí con người thanh thản và cuộc sống con người ổn định.

Trong phân chia tài sản thừa kế, Islam không nhìn vào người thừa kế và giới tính của họ, mà Islam nhìn vào ba tiêu chí sau đây để phân chia:

Ä  Tiêu chí thứ nhất: Mức độ quan hệ huyết thống và thân thích giữa những người thừa kế dù là nam hay nữ với người để lại tài sản thừa kế. Mức độ quan hệ huyết thống và thân thích càng gần thì phần thừa hưởng càng tăng trong tài sản thừa kế, ngược lại, mức độ quan hệ huyết thống và thân thích càng xa thì phần thừa hưởng càng giảm trong tài sản thừa kế; sự hơn kém và khác biệt về mức lượng tài sản thừa kế không dựa vào giới tính của người thừa kế. Thí dụ: con gái của người chết sẽ hưởng phần tài sản thừa kế nhiều hơn cha và mẹ của người chết.

Ä  Tiêu chí thứ hai: Tình trạng thực tế của người thừa kế trong cuộc sống .. các thế hệ tiếp nhận cuộc sống tương lai và chuẩn bị cho gánh nặng của họ (thế hệ con cháu) sẽ hưởng phần tài sản thừa kế nhiều hơn các thế hệ mà cuộc sống của họ đã lùi lại ở phía sau và gánh nặng của cuộc sống tương lai đã giảm bớt đối với họ (thế hệ cha mẹ, ông bà). Thí dụ: con gái của người chết hưởng phần tài sản thừa kế nhiều hơn mẹ của người chết mặc dầu cả hai đều là nữ giới, con gái của người chết cũng hưởng nhiều hơn cha của người chết mặc dù cha là nam giới và ngay cả trường hợp đứa con gái của người chết chỉ là một đứa bé nằm nôi chưa nhận dạng được cha của nó, nếu con gái của người chết là đứa con duy nhất thì lúc nào cũng sẽ hưởng chắc chắn một nửa tài sản thừa kế; tương tự, con trai của người chết hưởng nhiều hơn cha của người chết mặc dù cả hai đều là giới nam.

Ä  Tiêu chí thứ ba: Trách nhiệm tài chính mà giáo luật qui định thành nghĩa vụ và bổn phận cho người thừa kế đối với người khác .. đây là tiêu chí duy nhất có sự khác biệt giữa nam và nữ .. nhưng không phải là phân biệt giới tính mà là sự khác biệt về tiêu chí trách nhiệm và gánh vác nghĩa vụ tài chính. Người chị (em) gái đã có gia đình được hưởng quyền nuôi dưỡng và chu cấp từ phía người chồng của cô ta, cho nên cô ấy hưởng tài sản thừa kế bằng một nửa người anh (em) trai cô ta, bởi vì người anh (em) trai của cô ta còn phải có trách nhiệm nuôi dưỡng và chu cấp cho vợ và con cái của anh ta; còn nếu như người chị (em) gái còn độc thân thì cô ấy cũng hưởng bằng một nửa anh (em) trai cô ta và số tài sản đó thuộc quyền sở hữu riêng biệt của cô ta, tuy nhiên, người anh (em) trai của cô ta vẫn phải có trách nhiệm chu cấp cho cô ta. Tương tự, trường hợp của con cái cũng thế, con gái hưởng bằng một nửa con trai. Allah, Thượng Đế Tối Cao và Thông Lãm phán:

﴿يُوصِيكُمُ ٱللَّهُ فِيٓ أَوۡلَٰدِكُمۡۖ لِلذَّكَرِ مِثۡلُ حَظِّ ٱلۡأُنثَيَيۡنِۚ﴾ [سورة النساء: 11]

{Allah sắc lệnh cho các ngươi về việc con cái của các ngươi được hưởng gia tài thừa kế như sau: Phần của con trai bằng hai phần của con gái.} (Chương 4 – Anni-sa, câu 11).

Như vậy, rõ ràng giáo luật Islam không phân biệt đối xử giữa sự tương đồng mà chỉ có sự khác biệt giữa sự không tương đồng cần phải có sự khác biệt.

Nói đúng hơn giáo lý Islam qui trách nhiệm cho đàn ông nam giới nặng nề hơn nữ giới. Islam bắt người đàn ông phải trả tiền cưới cho người phụ nữ nhưng không bắt phụ nữ đưa tiền cưới cho người đàn ông. Tương tự, Islam bắt đàn ông phải lo chuyện nhà cửa, chỗ ở, đồ đạc sinh hoạt cũng như nuôi dưỡng và chu cấp chi tiêu cho phụ nữ và con cái của cô ta, ngoài ra người đàn ông còn phải gánh nợ nần cho phụ nữ; ngay cả khi vợ chồng đã ly dị thì giáo lý Islam cũng không để mặc người phụ nữ phải một mình đối mặt với những gánh nặng cuộc sống mà giáo lý bắt người chồng trước của cô ta phải chia sẻ gánh nặng, phải chu cấp và hỗ trợ nếu như cô ta chưa lấy chồng khác.

Dựa theo những điều trên thì rõ ràng nam giới trong Islam khi có sự ngang bằng về mức độ huyết thống và thân thích với nữ giới thì anh ta phải gánh vác trách nhiệm về mặt tài chính hơn phụ nữ.

Chốt lại vấn đề thì phụ nữ Muslim được Islam cho quyền thừa hưởng tài sản thừa kế một cách rõ ràng, hợp lý, công bằng và đúng với vai trò, vị trí trách nhiệm cũng như quyền lợi của mình trong cuộc sống và xã hội.

 Tình huống thừa kế của phụ nữ theo ba tiêu chí của Islam được gói gọn trong bốn trường hợp:

 Trường hợp người chết bỏ lại con cái: con trai và con gái (tức họ là anh em ruột thuộc những đứa con của người chết). Allah I phán:

﴿يُوصِيكُمُ ٱللَّهُ فِيٓ أَوۡلَٰدِكُمۡۖ لِلذَّكَرِ مِثۡلُ حَظِّ ٱلۡأُنثَيَيۡنِۚ﴾ [سورة النساء: 11]

{Allah sắc lệnh cho các ngươi về việc con cái của các ngươi được hưởng gia tài thừa kế như sau: Phần của con trai bằng hai phần của con gái.} (Chương 4 – Anni-sa, câu 11).

 Trường hợp vợ chồng thừa kế nhau tức vợ thừa kế chồng và chồng thừa kế vợ. Allah I phán:

﴿وَلَكُمۡ نِصۡفُ مَا تَرَكَ أَزۡوَٰجُكُمۡ إِن لَّمۡ يَكُن لَّهُنَّ وَلَدٞۚ فَإِن كَانَ لَهُنَّ وَلَدٞ فَلَكُمُ ٱلرُّبُعُ مِمَّا تَرَكۡنَۚ مِنۢ بَعۡدِ وَصِيَّةٖ يُوصِينَ بِهَآ أَوۡ دَيۡنٖۚ وَلَهُنَّ ٱلرُّبُعُ مِمَّا تَرَكۡتُمۡ إِن لَّمۡ يَكُن لَّكُمۡ وَلَدٞۚ فَإِن كَانَ لَكُمۡ وَلَدٞ فَلَهُنَّ ٱلثُّمُنُ مِمَّا تَرَكۡتُمۚ مِّنۢ بَعۡدِ وَصِيَّةٖ تُوصُونَ بِهَآ أَوۡ دَيۡنٖۗ ﴾ [سورة النساء: 12]

{Và các ngươi được hưởng phân nửa gia tài của các bà vợ để lại nếu như họ không có con, còn nếu họ có con thì các ngươi được hưởng một phần tư gia tài để lại sau khi đã thực hiện xong những điều ghi trong di chúc cũng như đã xong phần thánh toán nợ nần. Và các người vợ sẽ được hưởng một phần tư gia tài mà các ngươi để lại nếu các ngươi không có con, còn nếu các ngươi có con thì họ sẽ hưởng một phần tám gia tài để lại sau khi đã thực hiện xong những điều ghi trong di chúc cũng như đã thanh toán xong nợ nần.} (Chương 4 – Anni-sa, câu 12).

 Cha mẹ của người chết: cha hưởng gấp đôi mẹ; nếu người chết không có con thì cha hưởng hai phần ba tài sản thừa kế còn mẹ thì hưởng một phần ba.

 Nếu người chết chỉ có một đứa con gái thì con gái hưởng một nửa tài sản thừa kế, mẹ hưởng một phần sáu, cha hưởng một phần sáu và phần còn lại.

 Ngược lại, chúng ta thấy Islam cho phụ nữ hưởng tài sản thừa kể ngang bằng với nam giới trong một số trường hợp:

Ä  Trường hợp người chết không có cha mẹ (ông bà nội và ông bà bên nội thế hệ trở xuống gốc) và không có con cái (cháu nội và các thế hệ cháu nội trở lên ngọn) mà chỉ có một người chị (em) gái và một người anh (em) trai cùng mẹ khác cha thì mỗi người trong hai người đó hưởng một phần sáu tức anh (em) trai hưởng một phần sáu và chị (em) gái hưởng một phần sáu. Allah I phán:

﴿وَإِن كَانَ رَجُلٞ يُورَثُ كَلَٰلَةً أَوِ ٱمۡرَأَةٞ وَلَهُۥٓ أَخٌ أَوۡ أُخۡتٞ فَلِكُلِّ وَٰحِدٖ مِّنۡهُمَا ٱلسُّدُسُۚ فَإِن كَانُوٓاْ أَكۡثَرَ مِن ذَٰلِكَ فَهُمۡ شُرَكَآءُ فِي ٱلثُّلُثِۚ مِنۢ بَعۡدِ وَصِيَّةٖ يُوصَىٰ بِهَآ أَوۡ دَيۡنٍ غَيۡرَ مُضَآرّٖۚ وَصِيَّةٗ مِّنَ ٱللَّهِۗ وَٱللَّهُ عَلِيمٌ حَلِيمٞ ١٢﴾ [سورة النساء: 12]

{Và nếu người chết, dù nam hay nữ, để lại gia tài nhưng không có con cái hay cha mẹ để thừa hưởng mà chỉ có một người anh (hay em) trai hoặc một người chị (hay em) gái thì mỗi người sẽ hưởng được một phần sáu gia tài để lại; còn nếu số anh chị em đông hơn một người thì phần của tất cả họ là một phần ba gia tài để lại sau khi đã thực hiện xong những điều ghi trong di chúc cũng như đã thanh toán xong nợ nần miễn sao người thừa kế không bị thiệt thòi. Đó là điều lệnh từ Allah và Allah là Đấng Hiểu biết và Chịu đựng.} (Chương 4 – Anni-sa, câu 12).

Anh (hay em) trai hoặc một người chị (hay em) gái trong câu Kinh là anh em cùng mẹ khác cha với người chết.

Ä  Nếu một người chết đi không có ai hưởng thừa kế ngoài anh chị em cùng mẹ khác cha (nhiều hơn hai) thì tất cả cùng hưởng từ một phần ba tài sản của người chết để lại và chia đều cho nhau.

Ä  Cha mẹ của người chết mỗi người hưởng một phần sáu như nhau từ đứa con nếu người chết có một đứa con trai hoặc có con gái từ hai người trở lên. Allah I phán:

﴿وَلِأَبَوَيۡهِ لِكُلِّ وَٰحِدٖ مِّنۡهُمَا ٱلسُّدُسُ مِمَّا تَرَكَ إِن كَانَ لَهُۥ وَلَدٞۚ﴾ [سورة النساء: 11]

{Và cha, mẹ mỗi người được hưởng một phần sáu của gia tài để lại nếu người chết có con} (Chương 4 – Anni-sa, câu 11).

Ä  Nếu người phụ nữ qua đời bỏ lại người chồng và người chị (em) gái ruột: người chồng hưởng một nửa và người chị (em) gái ruột hưởng một nửa.

Ä  Nếu người phụ nữ qua đời bỏ lại người chồng và người chị (em) gái cùng cha khác mẹ: người chồng hưởng một nửa và người chị (em) gái cùng cha khác mẹ hưởng một nửa.

Ä  Nếu người phụ nữ qua đời bỏ lại người chồng, mẹ và chị (em) gái ruột: chồng hưởng một nửa, mẹ hưởng một nửa, còn chị (em) gài ruột không hưởng gì cả (sự phân chia của Ibnu Abbas).

Ä  Nếu người phụ nữ qua đời bỏ lại người chồng, một người chị (em) gái ruột, một người chị (em) gái cùng cha khác mẹ và một chị (em) gái cùng mẹ khác cha: chồng hưởng một nửa, chị (em) gái ruột hưởng một nửa, không còn gì cho chị (em) gái cùng cha khác mẹ và chị (em) gái cùng mẹ khác cha.

Ä  Nếu người đàn ông qua đời bỏ lại hai đứa con gái và cha mẹ: cha và mẹ mỗi người hưởng một phần sáu, và mỗi người con gái hưởng một phần ba.

 Cũng có một số trường hợp, giáo lý cho phụ nữ hưởng tài sản thừa kế nhiều hơn nam giới:

Ä  Nếu một người đàn ông qua đời bỏ lại hai đứa con gái, mẹ và một người anh (em) trai: hai đứa con gái hưởng hai phần ba, mẹ hưởng một phần sáu và phần còn lại cho người anh (em) trai (theo cách tính: tất cả tài sản chia làm 7 phần: mỗi đứa con gái là 3 phần, mẹ 1 phần và phần còn lại lại không còn gì nữa).

Ä  Nếu người đàn ông chết bỏ lại một đứa con gái, và cha mẹ: con gái hưởng nhiều hơn cha; con gái hưởng một nửa tài sản để lại, mẹ hưởng một phần sáu, cha hưởng một  phần sáu.

Ä  Nếu người đàn ông chết bỏ lại hai đứa con gái và cha mẹ thì mỗi đứa con gái hưởng gấp đôi cha.

Ä  Nếu một người phụ nữ chết bỏ lại chồng, mẹ, ông nội, hai người anh (em trai) cùng mẹ và hai người (anh em trai) cùng cha.

Ä  Nếu người đàn ông chết bỏ lại hai đứa con gái, một người anh (em trai) cùng cha và một người chị (em gái) cùng cha: mỗi đứa con gái nhận một phần ba tức là hai phần ba, còn lại một phần ba chia làm ba: người anh (em trai) hưởng hai và người chị (em gái) hưởng một.

 Những trường hợp nữ giới hưởng của thừa kế còn nam giới thì hưởng gì cả:

Ä  Khi một người đàn ông chết bỏ lại một đứa con gái, một chị (em gái) ruột và một người chú (bác): con gái hưởng một nửa, chị (em gái) ruột hưởng một nửa, người chú (bác) không có gì.

Ä  Khi một người phụ nữ qua đời bỏ lại chồng, một chị (em gái) ruột, một chị (em gái) cùng cha và một anh (em trai) cùng mẹ: chồng hưởng một nửa, chị (em gái) ruột hưởng một nửa, chị (em gái) cùng cha và anh (em trai) cùng mẹ không được gì cả.

Ä  Khi người phụ nữ chết bỏ lại chồng, mẹ, hai anh (em trai) cùng mẹ, một hoặc nhiều anh (em trai) ruột: chồng hưởng một nửa, mẹ hưởng một phần sáu, hai anh (em trai) cùng mẹ hưởng một phần ba, không còn gì cho anh (em trai) ruột. (Umar bin Khattab).

Ä  Khi người phụ nữ chết bỏ lại chồng, ông nội, mẹ, các anh (em trai) ruột và các anh (em trai) cùng mẹ: chồng hưởng một nửa, ông nội hưởng một phần sáu, mẹ hưởng một phần sáu, phần còn lại là của các anh (em trai) ruột, các anh (em trai) cùng mẹ không hưởng gì.

v  Những người nghiên cứu về môn học chia tài sản thừa kế trong giáo luật Islam thấy rằng có hơn ba mươi trường hợp nữ giới hưởng ngang bằng với nam giới, hoặc hưởng nhiều hơn nam giới hoặc chỉ có nữ giới hưởng còn nam giới không hưởng, trong khi đó chỉ có bốn trường hợp nữ giới hưởng bằng một nửa của nam giới ...

 Điểm qua quyền thừa kế tài sản của người phụ nữ trong các khuôn luật khác:

·         Quyền thừa kế tài sản trong Kinh Thánh chỉ dành riêng cho nam giới: “Nếu một người đàn ông có hai người vợ, một trong hai được y yêu thương và người còn lại bị y ghét bỏ, và cả hai đều sinh những đứa con trai cho y nhưng đứa con đầu lòng là con trai của người vợ mà y không yêu (16). Khi y để lại tài sản cho các con của y, y không được phép đưa quyền ưu tiên con trai đầu lòng cho đứa con trai đầu lòng của người vợ mà y yêu thương mà y phải đưa quyền ưu tiên đó cho người con trai đầu lòng của người vợ mà y không yêu thương (17). Y phải thừa nhận đứa con trai đầu của người vợ y không yêu thương là đứa con đầu lòng để y cho gấp đôi những gì mà y có được bởi vì đứa con trai đó là dấu hiệu đầu tiên về sức mạnh của người cha. Nó được hưởng quyền ưu tiên của đứa con đầu lòng.” (Đệ nhị luật ([1]) 21: 15 – 17).

·         Nữ giới không được hưởng quyền thừa kế tài sản trừ trường hợp không có nam giới: “1Bây giờ các con gái của Xê-lô-phát, con của Hê-phe, cháu của Ga-la-át, chắt của Ma-ki, chít của Ma-na-se, thuộc về các gia tộc Ma-na-se, là con trai của Giô-sép, tiến đến. Tên của các con gái nầy là: Mách-la, Nô-a, Hốt-la, Minh-ca và Tiệt-sa. 2Họ ra mắt Môi-se, thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, các nhà lãnh đạo và cả hội chúng tại cửa Lều Hội Kiến, và nói: 3“Cha chúng tôi đã chết trong hoang mạc. Ông không theo phe Cô-ra là những kẻ hiệp lại chống đối Đức Giê-hô-va nhưng ông đã chết vì tội lỗi mình và không có con trai. 4Tại sao danh cha chúng tôi bị loại ra khỏi gia tộc chỉ vì không có con trai? Hãy cho chúng tôi phần đất làm sản nghiệp giữa các anh em của cha chúng tôi.5Môi-se đem trường hợp của các người con gái ấy đến trước mặt Đức Giê-hô-va. 6Đức Giê-hô-va phán với Môi-se rằng: 7“Các người con gái Xê-lô-phát nói có lý. Con phải chia cho họ đất làm sản nghiệp giữa các anh em của cha họ và chuyển giao cho họ sản nghiệp của cha họ. 8Con cũng phải nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Nếu người nào chết mà không có con trai thì anh em phải giao sản nghiệp của người ấy lại cho con gái của họ. 9Nếu người ấy không có con gái thì phải giao sản nghiệp cho anh em của người ấy. 10 Nếu người ấy không có anh em thì phải giao sản nghiệp cho chú bác của người ấy. 11Và nếu người ấy không có chú bác thì phải giao sản nghiệp cho người bà con gần nhất làm sở hữu. Đó là luật lệ quy định cho dân Y-sơ-ra-ên đúng như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.” (Dân số ký ([2]) 27: 1 -11).

·         Điều 17 trong hiến pháp của nhà nước Pháp được sửa đổi sau hai trăm năm có nội dung: “Một người phụ nữ đã lập gia đình - ngay cả khi cuộc hôn nhân của cô ta dựa trên cơ sở phân chia quyền sở hữu của cô ta và quyền sở hữu của chồng cô ta – cô ta không có quyền cho, không có quyền chuyển quyền sở hữu của cô ta, không có quyền thế chấp, không có quyền sở hữu của bồi thường được bồi thường trừ phi phải có sự tham gia của người chồng trong hợp đồng hoặc có sự đồng ý của anh ta bằng văn bản chấp thuận”.

·         Phụ nữ trong luật pháp Anh Quốc vẫn được bán từ người chồng cho người khác với sáu đồng xu, và điều luật này tiếp tục có hiệu lực đến năm 1805 Tây lịch; và trong những gì được coi là luật Cách mạng Pháp thì phụ nữ bị hạn chế quyền của riêng mình, họ được xem giống như đứa trẻ và người điên, họ không có quyền tự xử lý tài sản của họ trừ phi một ai đó trong số những người nam giới ủy thác cho họ, và qui định này tiếp diễn cho đến năm 1938 Tây lịch.

Ø  Rồi khi muốn thay đổi, họ thay đổi một cách bất công đối với thực tế của phụ nữ, họ ném phụ nữ vào sự bất công vô cùng lớn lao, họ thay đổi cả bản chất riêng của người phụ nữ: họ bắt phụ nữ phải như đàn ông trong việc gánh vác trách nhiệm và những gánh nặng, họ đối xử tàn bạo với phụ nữ, họ biến phụ nữ thành những cái xác không hồn, chỉ có hình thể nhưng không có sự sống, họ chèn ép và áp bức phụ nữ dưới lớp vỏ bao bọc mang tên sự bình đẳng giới, họ muốn đưa phụ nữ tránh xa Islam bởi vì họ biết rằng chỉ có Islam là tôn giáo duy nhất có khả năng thiết lập và duy trì quyền của phụ nữ, chỉ có Islam mới là tôn giáo duy nhất đáp ứng sự bình đẳng cho phụ nữ và duy trì đúng với bản chất tự nhiên của phụ nữ; và bởi vì Islam là tôn giáo duy nhất đích thực của Allah, Đấng Thông Lãm, Đấng Chí Minh.

 Giải tỏa những khúc mắc về việc cấm người Muslim nữ kết hôn với người ngoại đạo.

Tại sao Islam cho phép người Muslim nam kết hôn với phụ nữ dân Kinh sách (người Do thái, Thiên chúa) nhưng lại cấm điều đó với Muslim nữ?

Đây quả là câu hỏi khá hay và vô cùng hợp lý. Nhưng trước khi trả lời cho câu hỏi này, chúng ta hãy xác nhận lại việc Islam nghiêm cấm người Muslim nữ kết hốn với người không phải Muslim qua lời phán của Allah Tối Cao và Chí Minh:

﴿وَلَا تُنكِحُواْ ٱلۡمُشۡرِكِينَ حَتَّىٰ يُؤۡمِنُواْۚ وَلَعَبۡدٞ مُّؤۡمِنٌ خَيۡرٞ مِّن مُّشۡرِكٖ وَلَوْ أَعْجَبَكُمْ﴾ [سورة البقرة: 221]

{Và chớ kết hôn (con gái của các ngươi) với những người đàn ông thờ đa thần cho đến khi nào chúng có đức tin. Chắc chắn người bề tôi có đức tin tốt hơn người thờ đa thần cho dù người thờ đa thần đó có làm các ngươi yêu thích.} (Chương 2 – Al-Baqarah, câu 221).

Việc cấm phụ nữ Muslim kết hôn với đàn ông không phải Muslim là dựa trên căn nguyên rằng thông thường phụ nữ hay theo chồng của cô ta và sự ảnh hưởng của đàn ông thông thường tác động mạnh mẽ đối vợ của anh ta hơn là sự ảnh hưởng của phụ nữ đối với chồng của cô ta, trong khi Islam là tôn giáo mang những mục đích trong đó có hai mục đích tiêu biểu sau:

Mục đích thứ nhất: Để thiên hạ công nhận một cách rõ ràng và không mơ hồ khiến họ tin rằng các tôn giáo đều đúng. Chính vì vậy, Islam cho người đàn ông Muslim kết hôn với phụ nữ không phải Muslim với điều kiện là người phụ nữ đó phải là dân Kinh sách (Do thái hoặc Thiên Chúa) bởi vì ít nhất cô ta có đức tin vào Thiên Chúa và sự mặc khải. Mặt khác, so với những người không phải Muslim khác thì người phụ nữ dân Kinh sách có thể hiểu về bức thông điệp của Islam hơn, đặc biệt là khi có sự kết nối với người chồng là Muslim qua lời nói và hành động. Khi cô ta nhìn thấy chồng Muslim của cô ta có phẩm chất đạo đức tốt đẹp trong cư xử cũng như trong cách sống giống như Islam đã ra lệnh và dạy bảo, có thể điều đó làm cho cô ta tiếp nhận Islam, tuy nhiên, nếu cô ta cứ kiên định trên tôn giáo của mình thì cô ta không bị cưỡng ép bởi lẽ không một ai có quyền ép buộc cô ta. Allah, Đấng Tối Cao phán:

﴿لَآ إِكۡرَاهَ فِي ٱلدِّينِۖ﴾  [سورة البقرة : 256]

{Không có sự cưởng ép tín ngưỡng trong tôn giáo.} (Chương 2 – Albaqarah, câu 256).

Mục đích thứ hai: Islam muốn bảo vệ và giữ vững những tín đồ của nó luôn có một sự kết chặt với nó. Do đó, Islam không để họ đến với những sự việc làm ảnh hướng đến đức tin Iman của họ, và điều này được Islam gọi là Fitnah (sự quấy nhiễu) trong tôn giáo. Allah, Đấng Tối Cao phán:

﴿وَٱلۡفِتۡنَةُ أَكۡبَرُ مِنَ ٱلۡقَتۡلِۗ﴾ [سورة البقرة: 217]

{Và Fitnah (sự quấy nhiễu) còn nghiêm trọng hơn cả việc giết chóc.} (Chương 2 – Albaqarah, câu 217).

Sự Fitnah trong tôn giáo có nhiều dạng thức khác nhau, có thể là dạng thức bạo lực đàn áp người Muslim mục đích để thay đổi đức tin và tín ngưỡng của y, và có thể                dưới dạng thức kết hôn với người đàn ông ngoại đạo dù họ mang tôn giáo gì đi chăng nữa. Nhưng tại sao việc kết hôn với người đàn ông không phải Muslim lại là điều Fitnah trong tôn giáo? Bởi vì đàn ông như chúng ta đã nói ở trên  thường gây ảnh hưởng đến phụ nữ nhiều hơn, có thể với sự ảnh hưởng của người chồng không phải Muslim này tác động lên người vợ Muslim của anh ta với sự tác động tiêu cực làm cô ta từ bỏ tôn giáo của cô ta hoặc ít nhất khiến cô ta không tuân thủ các nguyên tắc giáo lý tôn giáo của cô ta. Đó là điều Islam không muốn xảy ra cho các tín đồ của nó, Islam muốn để họ có một môi trường thích hợp trong việc duy trì và giữ gìn các giáo điều. Chính vì lẽ này, Islam khuyến khích và thúc giục người Muslim nữ phải có sự lựa chọn tốt, ngay cả trong việc kết hôn với người đàn ông Muslim thì Islam cũng bảo cô ta chọn lấy người chồng ngoan đạo và từ chối những người lơ là và xao lãng các giáo điều. Tất cả những điều đó đều chỉ nhằm mục đích giữ cho người Muslim nữ duy trì được tôn giáo của cô ta, tránh xa tất cả mọi điều gây ảnh hưởng xấu đến đức tin và tôn giáo của cô ta.

 Giải tỏa nhiều điều chưa rõ về Fitnah của phụ nữ và ý nghĩa rằng phụ nữ đến trong hình ảnh của Shaytan

Một số người thắc mắc tại sao Islam lại mô tả phụ nữ là điều Fitnah và tại sao lại nói phụ nữ đến trong hình ảnh của Shaytan?

Về thắc mắc thứ nhất: Điều quan trọng trước tiên mà chúng ta cần phải biết đó là ý nghĩa của từ ngữ Fitnah. Từ Fitnah được nhắc đến trong Qur’an và Sunnah của Thiên sứ Muhammad e mang nhiều hàm ý. Đa số từ Fitnah được nói đến trong Qur’an cũng như Sunnah thường với ý nghĩa là “sự thử thách”, và tôi không biết liệu những ai phản bác rằng Islam xem phụ nữ là điều Fitnah có hiểu và biết được ý nghĩa thực sự của từ ngữ Fitnah hay không, cũng như tôi không biết liệu họ đã đọc Qur’an hay chưa?

Qur’an trình bày cho chúng ta sự thật rằng việc mà con người phải đối mặt với tất cả những gì xảy ra trong cuộc sống, dù tốt hay xấu, lành hay dữ thì đó chỉ là Fitnah tức sự thử thách, một cuộc thi để xem ai là người vượt qua tốt nhất. Allah, Đấng Tối Cao phán:

﴿وَنَبۡلُوكُم بِٱلشَّرِّ وَٱلۡخَيۡرِ فِتۡنَةٗۖ  وَإِلَيۡنَا تُرۡجَعُونَ ٣٥﴾ [سورة الأنبياء: 35]

{Và TA thử thách các ngươi với điều xấu và điều tốt; và các ngươi phải trở về trình diện TA.} (Chương 21 – Al-Ambiya’, câu 35).

﴿ٱلَّذِي خَلَقَ ٱلۡمَوۡتَ وَٱلۡحَيَوٰةَ لِيَبۡلُوَكُمۡ أَيُّكُمۡ أَحۡسَنُ عَمَلٗاۚ وَهُوَ ٱلۡعَزِيزُ ٱلۡغَفُورُ ٢﴾ [سورة الملك : 2]

{Đấng đã tạo hóa cái chết và sự sống để xem ai trong các ngươi làm tốt, và Ngài là Đấng Quyền Lực, Hằng Tha thứ.} (Chương 67 – Al-Mulk, câu 2).

﴿وَٱعۡلَمُوٓاْ أَنَّمَآ أَمۡوَٰلُكُمۡ وَأَوۡلَٰدُكُمۡ فِتۡنَةٞ وَأَنَّ ٱللَّهَ عِندَهُۥٓ أَجۡرٌ عَظِيمٞ ٢٨﴾ [سورة الأنفال : 28]

{Và các ngươi hãy biết rằng tài sản và con cái của các ngươi chỉ là một Fitnah (sự thử thách); và ở nơi Allah có một phần thưởng vô cùng to lớn.} (Chương 8 – Al-Anfal, câu 28).

Và phụ nữ là sự thử thách cho đàn ông để xem người đàn ông có bị phụ nữ mê hoặc làm xao lãng Thượng Đế của y cũng như xao lãng sự tuân lệnh Ngài hay không? Liệu người đàn ông có nghịch lại với ý chỉ của Allah Tối Cao vì phụ nữ hay không: y có mở to mắt ngắm nhìn những điều Allah I nghiêm cấm không, y có quan hệ với phụ nữ ngoài giáo luật mà Ngài đã qui định không? Với cái đẹp, sự quyến rũ và gợi cảm của phụ nữ Allah I muốn thử thách người đàn ông xem y có thực sự kính sợ Ngài hay không?

Tương tự, người đàn ông cũng là Fitnah (sự thử thách) đối với phụ nữ, khi một người đàn ông đẹp trai lịch lãm, sang trọng có tiền của nhưng không phải là người duy trì các giáo điều của Allah I, đến với một người phụ nữ, Allah I muốn thử thách cô ta xem cô ta sẽ vì sắc đẹp và tiền tài của người đàn ông đó và chọn anh ta làm chồng hoặc cô ta bất chấp điều cấm của Allah I mà quan hệ bất chính với người đàn ông đó, hay cô ta nhận biết được đó là sự thử thách dành cho cô ta và cô ta cố gắng vượt qua, cô ta bắt bản thân mình chỉ chọn lấy người đàn ông làm hài lòng Allah I và tránh xa những điều nghiêm cấm?

Và con cái cũng là điều Fitnah để thử thách cha mẹ của chúng. Allah I dùng con cái để thử thách các bề tôi của Ngài để xem họ sẽ vì con cái của họ mà quên Ngài, quên đi việc tuân lệnh Ngài hay họ luôn cố gắng nuôi dạy chúng theo sự giáo dục của Islam?

Như vậy, việc nói phụ nữ là Fitnah thực sự không phải là nói phụ nữ là điều xấu, không phải nói bản chất của phụ nữ là không tốt lành mà chúng ta chỉ muốn nói phụ nữ là sự thử thách giống như Allah I đã phán rằng con cái là điều Fitnah tức là sự thử thách cho cha mẹ của chúng trong việc tuân lệnh Allah I chứ con cái không phải là điều xấu. Không những vậy, Allah I còn mô tả rằng con người chúng ta đều là Fitnah cho nhau như Ngài phán:

﴿وَجَعَلۡنَا بَعۡضَكُمۡ لِبَعۡضٖ فِتۡنَةً أَتَصۡبِرُونَۗ﴾ [سورة الفرقان: 20]

{Và TA đã dùng một số người này để làm Fitnah (sự thử thách) cho một số người kia hầu xem các ngươi có kiên nhẫn chịu đựng hay không?} (Chương 25 – Al-Furqan, câu 20).

Thắc mắc thứ hai: Nói rằng Islam xem phụ nữ giống như Shaytan. Điều này hoàn toàn sai, đó chỉ là một sự ngộ nhận thiếu hiểu biết. Nếu phụ nữ được xem là như thế trong Islam thì chắc chắn Islam cũng xem như thế đối với đàn ông, bởi vì Thiên sứ của Allah e đã nói:

))النِّسَاءُ شَقَائِقُ الرِّجَالِ(( رواه أبو داود والترمذي.

“Phụ nữ là anh em ruột của đàn ông” (Abu Dawood, Tirmizdi).

Như vậy, nếu phụ nữ là Shaytan thì đàn ông cũng là Shaytan bởi họ là anh em ruột của nhau!!!

Thật ra đây là những lời xảo biện mà những người muốn chống phá Islam đã bày trò. Quả thật, Allah Tối Cao luôn quí trọng con cháu của Adam, Ngài ban cho nhiều vinh dự dù là nam hay nữ, Ngài phán:

﴿وَلَقَدۡ كَرَّمۡنَا بَنِيٓ ءَادَمَ﴾ [سورة الإسراء: 70]

{Và quả thật, TA đã ban nhiều vinh dự cho con cháu của Adam (nhân loại).} (Chương 17 – Al-Isra, câu 70).

Quả thật, nhiều người cố tình vạch tìm sơ hở trong lời nói cũng như trong hành động của Nabi e hầu để chỉ trích Islam, và thực sự trong lời nói cũng như trong hành động của Thiên sứ e chắc chăn chẳng có gì là sơ hở, chẳng có gì là không đúng để họ phản bác, mà thật ra họ chỉ cố ý dùng xảo ngôn để ngụy biện và bóp méo cũng như để xuyên tạc sự thật. Và một trong những Hadith mà họ tìm cách bóp méo và xuyên tạc đó là Hadith Sahih được ghi lại bởi Imam Muslim và những vị học giả khác rằng Thiên sứ của Allah e nói:

))إِنَّ الْمَرْأَةَ تُقْبِلُ فِى صُورَةِ شَيْطَانٍ وَتُدْبِرُ فِى صُورَةِ شَيْطَانٍ فَإِذَا أَبْصَرَ أَحَدُكُمُ امْرَأَةً فَلْيَأْتِ أَهْلَهُ فَإِنَّ ذَلِكَ يَرُدُّ مَا فِى نَفْسِهِ((

“Quả thật, phụ nữ đến trong hình ảnh của Shaytan và đi trong hình ảnh của Shaytan, bởi thế khi ai đó trong các ngươi nhìn thấy một người phụ nữ thì y hãy đến với vợ của y vì điều đó sẽ làm dập tắt những gì (sự ham muốn nhục dục) trong bản thân y”.

Tiến sĩ Abdul-Hakim Sadiq Al-Faituri nói: (Trong lời Hadith chẳng có gì để phản bác cả, và chẳng có gì là mang hàm ý khinh thường, coi rẻ cũng như hạ thấp phụ nữ cả, mà ý nghĩa của Hadith là Allah Tối Cao làm cho bản thân người đàn ông luôn hướng đến phụ nữ vì lòng ham muốn xác thịt cũng như người đàn ông thường nghĩ đến sự hưởng thụ khoái lạc ở phụ nữ.

Và trong sự ngắm nhìn phụ nữ sẽ đem lại điều Fitnah, mời gọi người đàn ông đến với điều tội lỗi, bởi hình ảnh của phụ nữ kêu gọi người đàn ông đến với nhục dục và khoái lạc và khiến họ rơi vào điều Haram, nó giống như sự cám dỗ của Shaytan mời gọi con người đến với những điều xấu qua sự bày vẻ và trang hoàng làm mê hoặc đôi mắt của họ. Và đây là điều thực tế.

Hadith chỉ mang ý nghĩa khuyến cáo phụ nữ không nên ăn mặc không kín đáo, họ nên che kín cơ thể của họ mục đích để không quấy nhiễu đàn ông và để đàn ông không bị quấy nhiễu bởi họ. Và trong Hadith còn mang một lời chỉ dạy và hướng dẫn cách điều trị cho những gì xảy ra trong tâm trí của người đàn ông khi mà hình ảnh gợi cảm và quyến rũ của người phụ nữ nào đó đã ám ảnh y bằng cách y hãy đến với vợ của y, bằng cách đó, insha-Allah sự ham muốn nhục dục trong tâm trí sẽ tan biến.

Những mập mờ cũng như những điều chưa rõ này nguyên nhân là do thiếu sự hiểu biết về vị trí và vai trò của phụ nữ trong Islam cũng như do nhận thức sai lầm rằng Islam bất công với phụ nữ, xem trọng đàn ông hơn phụ nữ. Quả thật, trong một số lời giáo lý thì người đàn ông được gọi là Shaytan khi xem xét về hành động của họ. Thiên sứ của Allah e mô tả việc người đàn ông đi rao giảng chuyện chăn gối của y và vợ của y cũng như việc người phụ nữ đem chuyện chăn gối vợ chồng của cô ta đi rao giảng với lời:

))فَإِنَّمَا مِثْلُ ذَلِكَ مِثْلُ الشَّيْطَانِ لَقِىَ شَيْطَانَةً فِى طَرِيقٍ فَغَشِيَهَا وَالنَّاسُ يَنْظُرُونَ(( رواه أحمد.

“Quả thật hình ảnh của việc làm đó giống như hình ảnh của Shaytan nam gặp Shaytan nữ trên con đường và cả hai thực hiện hành vi tình dục trong lúc mọi người đang nhìn xem” (Ahmad).). Đã xong lời của tiến sĩ Abdul-Hakim.

Hơn nữa, việc so sánh với Shaytan không can hệ với việc là người đàn ông hay người phụ nữ phải có bản chất giống Shaytan mà việc so sánh ở đây chỉ dựa trên đặc điểm của việc làm mà người đàn ông hay người phụ nữ thực hiện. Và đây là phong cách nói chuyện và diễn đạt trong văn phong ngôn ngữ Ả Rập, với phong cách này chẳng ai hiểu là người phụ nữ là Shaytan hay người đàn ông là Shaytan giống như một số người muốn xuyên tạc và bóp méo sự thật với xảo ngôn và ngụy biện.

 Chế độ đa thê trong Islam và trong các tôn giáo khác

 Giải tỏa những điều chưa hiểu đúng xung quanh vấn đề đa thê trong Islam

Quả thật, kẻ thù của Islam đã “chặt chém” Islam, họ tố cáo Islam chèn ép và bất công với phụ nữ, họ chỉ trích rằng Qur’an thiết lập chế độ đa thê là bất bình đẳng với phụ nữ qua câu Kinh:

﴿فَٱنكِحُواْ مَا طَابَ لَكُم مِّنَ ٱلنِّسَآءِ مَثۡنَىٰ وَثُلَٰثَ وَرُبَٰعَۖ﴾ [سورة النساء: 3]

{Các ngươi hãy cưới những phụ nữ được cho là tốt đẹp với các ngươi, hai người, ba người, hoặc bốn người.} (Chương 4 – Annisa’, câu 3).

Họ - kẻ thù của Islam – cho rằng Qur’an đã hạ thấp giá trị của người phụ nữ cũng như hạn chế quyền của họ, và Islam đã đưa con người trở về với thời kỳ ngu muội xưa kia!!

Trước khi chúng ta làm rõ vấn đề đa thê trong Islam cũng như các mục đích của việc Islam cho phép đa thê thì chúng ta hãy trả lời một câu hỏi rất quan trọng: Có phải Islam là tôn giáo đã sáng lập và khởi xướng chế độ đa thê hay thật ra chế độ đa thê đã hiện hữu trước Islam? Quả thật, lịch sử đã khẳng định rằng chế độ đa thể đã xuất hiện và được biết trong nhân loại từ những thời đại rất xa xưa và có mặt trong mọi nền văn minh trước Islam.

·         Trong Kinh Cựu Ước (Tawrah) và tín ngưỡng của Do thái: Quả thật Kinh Cựu Ước cho phép người đàn ông Do thái cưới hơn một người vợ và không qui định giới hạn số lượng người vợ ngoại trừ Talmud([3]) giới hạn với số lượng tối đa là bốn vợ với điều kiện là người chồng phải có khả năng đảm bảo cuộc sống cho bốn người vợ đó, Talmud nói: không được phép cho người đàn ông cưới hơn bốn vợ giống như Jacob (Ya’qub) đã làm ngoại trừ anh ta đã thề điều đó với người vợ thứ nhất; còn không thì phải kèm theo điều kiện cho việc đa thê này là khả năng chu cấp.

·         Trong Sáng Thế Ký: Jacob (Ya’qub) u cưới: Leah, Rachel, Bila nữ hầu của Rachel, Zilpah người nữ hầu của Leah.

·         Trong Dân Số Ký: David (Dawood) u có rất nhiều vợ và vô số cung nữ, và con trai của Người Nabi Solomon (Sulayman) u cũng thế: riêng Solomon (Sulayman) thì có hơn 1000 bà vợ giống như vua cha David (Dawood) cưới 14 người vợ. Gidion có tới bảy mươi người con trai bởi vì ông là người nhiều vợ (4); .. tuy nhiên, chế độ đa thê đã bị hủy bỏ, theo pháp luật dân sự mà các học giả Do Thái ban hành cũng như được xác nhận bởi các hội đường của người Do Thái. Điều 54 của cuốn sách về quy định pháp lý cho người Israel đã quy định rằng: một người đàn ông không nên cưới nhiều hơn một vợ và anh ta phải thề điều đó khi tiến hành lễ hôn ước.

Như vậy, cơ sở cấm đa thê không phải từ Kinh Cựu Ước (Tawrah hay Torah).

·         Chế độ đa thê trong Kinh Tân Ước (Injil) và tín ngưỡng Kitô giáo: Kitô giáo vào buổi đầu đã xác nhận những gì đã được người Do Thái khẳng định về chế độ đa thê và những người đàn ông của nhà thờ không phản đối điều đó cho đến thế kỷ thứ mười bảy thì lệnh cấm bắt đầu vào năm 1750 Tây lịch. Các giáo sĩ cho rằng lý do cấm là để giơ cao nhiệm vụ của họ mục đích để họ hoàn thành sự tuyên truyền và để họ không phải bận tâm nhiều về phụ nữ mà bỏ bê việc chăm sóc nhà thờ và các tín hữu.

Việc cấm này đầu tiên chỉ bắt đầu đối với các giáo sĩ chứ những người không phải giáo sĩ thì không bị cấm. Sau đó việc chỉ được phép kết hôn lần đầu mới trở thành nghi lễ tôn giáo đối với mọi tín hữu nam không phải là giáo sĩ. Và nếu tín đồ nào muốn cưới vợ thứ hai thì không được thực hiện theo nghi lễ tôn giáo; rồi sau đó là cấm cưới nhiều hơn một vợ nhưng lại cho phép lén lút (quan hệ ngoài luồng), tuy nhiên, điều này cũng đã bị cấm vào năm 970 theo lệnh của Patriarch Abram Alsorbana.

Như vậy, việc cấm đa thê không phải là thiên luật mà luật do con người đặt ra .. và sau đó, các giáo sĩ kêu gọi đến với cuộc sống độc thân và điều này chỉ được chấp nhận trong Kitô giáo chứ không được chấp nhận trong tôn giáo khác, và họ coi việc sống độc thân là bằng chứng cho sự tốt đẹp của bản thân cũng như là nguyên nhân cho sự thánh thiện và cho việc đạt được đỉnh cao của đức tin hoặc sự thanh sạch cho nhà thờ. Ham muốn tình dục tự nhiên của bản thân con người được họ xem là điều xấu hổ, hèn hạ và thấp kém, là điều khiếm khuyết trong đức tin cũng như sự thánh thiện. Trong thư thứ nhất mà Paul (thánh Phao-lo) gởi đến các tín hữu Cô-rin-to trong việc kêu gọi họ không cưới vợ: ((32) Tôi muốn anh chị em không phải bận tâm lo lắng điều gì. Ðàn ông không có vợ thì chuyên lo việc Chúa: họ tìm cách làm đẹp lòng Người. (33) Còn người có vợ thì lo lắng việc đời: họ tìm cách làm đẹp lòng vợ, (34) thế là họ bị chia đôi. Cũng vậy, đàn bà không có chồng và người trinh nữ thì chuyên lo việc Chúa, để thuộc trọn về Người cả hồn lẫn xác. Còn người có chồng thì lo lắng việc đời: họ tìm cách làm đẹp lòng chồng. (35) Tôi nói thế là để mong tìm ích lợi cho anh chị em, tôi không có ý gài bẫy anh chị em đâu, nhưng chỉ muốn đề nghị với anh chị em một điều tốt, để anh chị em được gắn bó cùng Chúa mà không bị giằng co.).

Cứ như thế, họ đã sửa đổi và bóp méo lời của Kinh Thánh, tư tưởng và suy nghĩ của họ trở nên sai lệch và mang lại sự phá hoại, đi ngược lại với trí tuệ lành mạnh và bản chất tự nhiên thuần khiết .. Con người sẽ duy trì sự sinh sản và bảo tồn gióng nòi từ đâu nếu không cho phép kết hôn hợp giáo lý? Tình yêu thương, lòng khoan dung và sự thanh thản và an bình sẽ đi về đâu? Tại sao lại dập tắt nhu cầu tình dục tự nhiên, nhu cầu bản năng mà Allah đã tạo nó thành bản chất của con người và Ngài qui định cho nó một con đường đúng đắn và hợp lý để đáp ứng? Và làm sao chúng ta có thể kìm hãm được nhu cầu bản năng thiết yếu của con người? Điều đó nếu cố gắng thì chỉ tạo nên sự hư hại và tội lỗi ...!

 Sự đa thê trong Islam

Allah Tối Cao ban hành luật kết hôn cho con cháu của Adam, Ngài phán:

﴿وَٱللَّهُ جَعَلَ لَكُم مِّنۡ أَنفُسِكُمۡ أَزۡوَٰجٗا وَجَعَلَ لَكُم مِّنۡ أَزۡوَٰجِكُم بَنِينَ وَحَفَدَةٗ وَرَزَقَكُم مِّنَ ٱلطَّيِّبَٰتِۚ أَفَبِٱلۡبَٰطِلِ يُؤۡمِنُونَ وَبِنِعۡمَتِ ٱللَّهِ هُمۡ يَكۡفُرُونَ ٧٢﴾ [سورة النحل: 72]

{Và Allah đã tạo từ bản thân các ngươi những người vợ cho các ngươi và từ những người vợ Ngài đã tạo con cái và cháu chắt cho các ngươi, và Ngài cung cấp lương thực tốt cho các ngươi. Phải chăng họ tin tưởng nơi điều giả dối và phủ nhận các ân huệ của Allah?} (Chương 16 – Annahl, câu 72).

Đây là một sự ưu đãi và một sự hoàn thiện ân huệ dành cho con người; là cách thanh lọc trái tim và thể xác khỏi những điều tai hại, ô uế và tội lỗi; là cách để giải tỏa tâm sinh lý mang đến sự thanh thản, tình yêu thương, sự bao dung và tinh thần ổn định. Kết hôn là thứ mạnh mẽ nhất và lâu dài nhất cho sự kết nối giữa hai con người, nó bao gồm một phản ứng trao đổi rộng lớn giữa hai cơ thể tuy khác nhau về giới tính đực cái nhưng đều từ một cá thể duy nhất trong cấu tạo và bản chất, Allah Tối Cao phán:

﴿هُوَ ٱلَّذِي خَلَقَكُم مِّن نَّفۡسٖ وَٰحِدَةٖ وَجَعَلَ مِنۡهَا زَوۡجَهَا لِيَسۡكُنَ إِلَيۡهَاۖ﴾ [سورة الأعراف: 189]

{Ngài là Đấng đã tạo các ngươi từ một người duy nhất (Adam), và từ Y Ngài đã tạo ra người vợ của Y để Y sống yên bình với nàng.} (Chương 7 – Al-A’raf, câu 189).

Đây là quan điểm của Islam về bản chất đích thực của con người, một quan điểm hoàn hảo, chu toàn và trung thực.

Islam không qui định và kêu gọi đến với sự độc thân và tu hành xuất thế. Thiên sứ của Allah e nói:

))إِنَّ اللهَ أَبْدَلَنَا الرَّهْبَانِيَةَ الحَنِيْفِيَّةَ السَّمَحَة(( رواه الطبراني.

“Quả thật Allah đã thay thế sự tu hành bằng tôn giáo thuần túy khoan dung (Islam) (Attabra-ni).

Không những vậy, Islam lấy việc kết hôn lập gia đình là con đường để thanh lọc, tẩy rửa bản thân khỏi những điều ô uế. Thiên sứ của Allah e nói:

))مَنْ أَرَادَ أَنْ يَلْقَى اللهَ طَاهِرًا مُطَهَّرًا فَلْيَتَزَوَّجِ الْحَرَائِرَ(( رواه ابن ماجه.

“Ai muốn trình diện Allah một cách trong sạch và tinh khiết thì hãy cưới những phụ nữ tự do” (Ibnu Ma-jah).

))النِّكَاحُ مِنْ سُنَّتِى فَمَنْ لَمْ يَعْمَلْ بِسُنَّتِى فَلَيْسَ مِنِّى وَتَزَوَّجُوا فَإِنِّى مُكَاثِرٌ بِكُمُ الأُمَمَ وَمَنْ كَانَ ذَا طَوْلٍ فَلْيَنْكِحْ وَمَنْ لَمْ يَجِدْ فَعَلَيْهِ بِالصِّيَامِ فَإِنَّ الصَّوْمَ لَهُ وِجَاءٌ(( رواه ابن ماجه.

“Kết hôn là Sunnah (đường lối) của Ta, bởi thế, ai không làm theo đường lối của Ta thì người đó không thuộc tín đồ của Ta; các ngươi hay cưới vợ bởi quả thật Ta sẽ là người có nhiều tín đồ bởi các ngươi, và người tráng kiện (khả năng tình dục dồi dào và sung mãn hơn bình thường) hãy kết hôn còn ai không có khả năng lập gia đình thì hãy nhịn chay bởi vì sự nhịn chay sẽ là rào chắn cho y (khỏi điều tội lỗi) (Ibnu Ma-jah).

))مَنْ كَانَ مِنْكُمْ ذَا طَوْلٍ فَلْيَتَزَوَّجْ فَإِنَّهُ أَغَضُّ لِلْبَصَرِ وَأَحْصَنُ لِلْفَرْجِ وَمَنْ لاَ فَالصَّوْمُ لَهُ وِجَاءٌ(( رواه النسائي وأحمد.

“Ai trong các ngươi với cơ thể cường tráng (dồi dào về lòng ham muốn tình dục) thì hãy cưới vợ bởi quả thật điều đó giúp y hạ thấp cái nhìn xuống (không nhìn những điều Haram) và giúp y giữ bộ phận sinh dục (khỏi hành vi Haram), và người nào không có khả năng cưới vợ thì hãy nhịn chay bởi vì nó sẽ là rào chắn bảo vệ khỏi điều cấm” (Annasa-i, Ahmad).

Và một trong những điều mà giáo lý Islam cho phép, đó là sự đa thê nếu như thực sự cần thiết, bởi vì nó là một giải pháp tối ưu để giải quyết nhu cầu cấp bách, các luận điểm cho vấn đề này:

Luận điểm thứ nhất: Islam không phải là kẻ đã thiết lập và khởi xướng chế độ đa thê mà khi Islam đến thì Islam đã nhìn thấy sự việc đó lan rộng phổ biến ở khắp mọi nơi, mọi môi trường xã hội. Những người Ả Rập thời Jahiliyah (tiền Islam) đã xem chuyện đa thê là việc làm rất bình thường, hơn nữa sự đa thê rất phổ biến trong cuộc sống xã hội của họ.

Luận điểm thứ hai: Islam đến tổ chức, xây dựng và cải thiện lại mọi vấn đề và mọi vụ việc xã hội của con người và trong đó có vấn đề đa thê. Islam cho phép duy trì chế độ đa thê nhưng có qui định giới hạn trong một phạm vi nhất định với các điều kiện và điều luật nhằm ngăn chặn sự tiêu cực cũng như để giải quyết sự ổn định của xã hội và đảm bảo quyền lợi của con người. Allah I phán:

﴿وَإِنۡ خِفۡتُمۡ أَلَّا تُقۡسِطُواْ فِي ٱلۡيَتَٰمَىٰ فَٱنكِحُواْ مَا طَابَ لَكُم مِّنَ ٱلنِّسَآءِ مَثۡنَىٰ وَثُلَٰثَ وَرُبَٰعَۖ فَإِنۡ خِفۡتُمۡ أَلَّا تَعۡدِلُواْ فَوَٰحِدَةً أَوۡ مَا مَلَكَتۡ أَيۡمَٰنُكُمۡۚ ذَٰلِكَ أَدۡنَىٰٓ أَلَّا تَعُولُواْ ٣﴾ [سورة النساء: 3]

{Và nếu các ngươi sợ không thể đối xử công bằng với các con (gái) mồ côi, các ngươi hãy cưới những phụ nữ được cho là tốt đẹp với các ngươi, hai người, ba người, hoặc bốn người, nhưng nếu các ngươi e sợ không thể đối xử công bằng thì các ngươi hãy cưới một vợ thôi hoặc những phụ nữ tù binh dưới quyền các ngươi. Điều đó sẽ giúp các ngươi tránh khỏi sự bất công của bản thân.} (Chương 4 – Annisa’, câu 3).

Khi câu Kinh này được mặc khải xuống thì Thiên sứ của Allah e đã ra lệnh: ai có nhiều hơn bốn vợ thì chỉ được phép giữ lại bốn vợ và phải li di những người vợ còn lại. Theo ghi nhận của Albukhari rằng Ghailaan bin Salamah Ath-Thaqafi t vào Islam và ông ta có tới mười người vợ, thế là Thiên sứ của Allah e bảo ông ta:

))اِخْتَرْ  مِنْهُنَّ أَرْبَعاً((

“Hãy chọn lấy bốn trong số họ”.

Ông Umairah Al-Asadi t thuật lại: Tôi vào Islam, lúc đó tôi có tới tám người vợ, tôi nói cho Thiên sứ của Allah e biết về điều đó thì Người nói:

))اِخْتَرْ  مِنْهُنَّ أَرْبَعاً((

“Hãy chọn lấy bốn trong số họ” (Abu Dawood).

Nufal bin Mu’awiyah Addilami t thuật lại: Tôi vào Islam và tôi có năm người vợ, Thiên sứ của Allah e  bảo tôi:

))اِخْتَرْ  أَرْبَعاً أَيّتهُنَّ شِئْتَ وَفَارِقِ الْأُخْرَى ((أخرجه الشافعي في مسنده.

“Hãy chọn lấy bốn người anh muốn và hãy li dị một người còn lại” (Sha-fi’y ghi lại trong Musnad của ông).

Như vậy, Islam đến đã giới hạn số lượng được phép tối đa trong chế độ đa thê là bốn khi mà trước đó chế độ đa thê không hề có sự giới hạn.

Luận điểm thứ ba: Islam không để sự đa thê được diễn ra theo ham muốn và sở thích của người đàn ông mà không có các qui định và nguyên tắc để quản lý. Các nguyên tắc cũng như các qui định chính là yêu cầu người đàn ông phải có sự công bằng, nếu không thì không được phép cưới nhiều hơn một. Và sự công bằng được phần thành hai dạng:

Dạng thứ nhất: Công bằng bắt buộc và được yêu cầu, đó là dạng công bằng trong cách cư xử, chu cấp, sự gần gũi; không để người vợ này thua kém hơn người kia bất cứ một thứ gì. Và đây là sự công bằng mà giáo lý Islam yêu cầu được thể hiện trong câu Kinh:

﴿فَإِنۡ خِفۡتُمۡ أَلَّا تَعۡدِلُواْ فَوَٰحِدَةً أَوۡ مَا مَلَكَتۡ أَيۡمَٰنُكُمۡۚ ﴾ [سورة النساء: 3]

{... nhưng nếu các ngươi e sợ không thể đối xử công bằng thì các ngươi hãy cưới một vợ thôi ...} (Chương 4 – Annisa’, câu 3).

Thiên sứ của Allah e nói:

))إِذَا كَانَ عِنْدَ الرَّجُلِ امْرَأَتَانِ فَلَمْ يَعْدِلْ بَيْنَهُمَا جَاءَ يَوْمَ الْقِيَامَةِ وَشِقُّهُ سَاقِطٌ(( رواه الترمذي.

“Nếu một người đàn ông có hai người vợ nhưng y không công bằng giữa hai người vợ đó thì vào Ngày Phục Sinh y sẽ được phục sinh với dáng người nghiêng một bên” (Tirmizdi).

Ông Abdullah bin Amru bin Al-Ass t thuật lại rằng Thiên sứ của Allah e nói:

))إِنَّ الْمُقْسِطِينَ عِنْدَ اللهِ عَلَى مَنَابِرَ مِنْ نُورٍ عَنْ يَمِينِ الرَّحْمَنِ عَزَّ وَجَلَّ وَكِلْتَا يَدَيْهِ يَمِينٌ الَّذِينَ يَعْدِلُونَ فِى حُكْمِهِمْ وَأَهْلِيهِمْ وَمَا وَلُوا(( رواه مسلم.

“Quả thật, những người cư xử công bằng nơi Allah, họ sẽ được ở trên những bục ánh hào quang ở phía bên phải của Đấng Rahman, và hai tay của Ngài đều là tay phải, họ là những người công bằng trong phân xử, trong đối xử với vợ của họ và trong những gì mà họ có trách nhiệm quản lý.” (Muslim).

Dạng thứ hai: Công bằng trong tình cảm, đó là cảm xúc của trái tim, và đây là dạng công bằng nằm ngoài sự kiểm soát của con người, và nó không được giáo lý yêu cầu. Sự công bằng này được nói trong câu Kinh:

﴿وَلَن تَسۡتَطِيعُوٓاْ أَن تَعۡدِلُواْ بَيۡنَ ٱلنِّسَآءِ وَلَوۡ حَرَصۡتُمۡۖ فَلَا تَمِيلُواْ كُلَّ ٱلۡمَيۡلِ فَتَذَرُوهَا كَٱلۡمُعَلَّقَةِۚ وَإِن تُصۡلِحُواْ وَتَتَّقُواْ فَإِنَّ ٱللَّهَ كَانَ غَفُورٗا رَّحِيمٗا ١٢٩﴾ [سورة النساء: 129]

{Và không bao giờ các ngươi có thể đối xử công bằng giữa các người vợ của các ngươi mặc dầu các ngươi đã cố gắng. Tuy nhiên, chớ hoàn toàn nghiêng hẳn (về một bà và hoàn toàn bỏ rơi những người vợ còn lại), các ngươi bỏ rơi họ như một án treo. Bởi thế, nếu các ngươi làm hòa và kính sợ Allah thì quả thật Allah là Đấng Hằng Tha thứ và Thương xót.} (Chương 4 – Annisa’, câu 129).

Tuy nhiên, không thể công bằng ở đây không có nghĩa là được phép cư xử bất công trong thể hiện tình cảm tức hoàn toàn nghiêng về một người vợ duy nhất mà người chồng phải chừa lại một khoảng trong tim dành cho người vợ khác chứ không được chỉ gần gũi với người vợ này mà bỏ bê hoàn toàn người vợ kia giống như cô ấy không phải là vợ.

Quả thật, người mẹ của những người có đức tin, bà A’ishah i là vợ của Thiên sứ e, bà đã chiếm lĩnh trái tim của Thiên sứ nhưng điều đó không làm Người e đối xử bất công trong cách thể hiện tình cảm vợ chồng; và Người e thường cầu xin Allah:

))اللَّهُمَّ هَذَا قَسْمِى فِيمَا أَمْلِكُ فَلاَ تَلُمْنِى فِيمَا تَمْلِكُ وَلاَ أَمْلِكُ(( رواه أبو داود.

“Lạy Allah, đây là sự phân chia của bề tôi về những gì bề tôi có thể kiểm soát, xin Ngài chớ trách cứ bề tôi về những gì tuy bề tôi sở hữu nó nhưng bề tôi không kiểm soát được nó (ý nói trái tim) (Abu Dawood).

Những gì trong câu Kinh thứ hai này không mang ý nghĩa nghiêm cấm sự đa thê được nói đến trong câu Kinh thứ nhất bởi vì sự công bằng trong câu Kinh thứ nhất là cái được yêu cầu tức sự công bằng về vật chất, còn trong câu Kinh thứ hai thì sự yêu cầu là không được nghiêng hoàn toàn chứ không phải cấm bởi vì cảm xúc của trái tim nằm ngoài sự kiểm soát của con người, và trái tim con người nằm giữa các ngón tay của Allah I và Ngài muốn thay đổi nó như thế nào tùy ý Ngài. Cũng chính vì vậy mà Thiên sứ của Allah e thường nói trong cầu nguyện:

))يَا مُقَلِّبَ الْقُلُوبِ ثَبِّتْ قَلْبِى عَلَى دِينِكَ((

“Ôi Đấng làm thay đổi các con tim, xin Ngài củng cố trái tim của bề tôi vững chắc trên tôn giáo của Ngài”.

Còn nếu như sợ không công bằng về vật chất thì chỉ nên cưới một vợ. {Điều đó sẽ giúp các ngươi tránh khỏi sự bất công của bản thân.} (Chương 4 – Annisa’, câu 3).

Luận điểm thứ tư: Ý nghĩa cũng như giá trị của việc cho phép đa thê dĩ nhiên chỉ có Allah I mới biết rõ hết ý nghĩa và giá trị của nó, nhưng dựa theo sự nhận xét và đánh giá thì nó mang những ý nghĩa sau:

1-      Sự cho phép này không phải để đáp ứng sự hưởng thụ khoái lạc và thú vui của con người ở gốc độ con (con người gồm phần người và phần con) mà nó chỉ là điều cấp bách cần giải quyết cho điều cấp bách, một giải pháp tối ưu khi đối mặt với khó khăn để Islam không phải đứng nhìn bên lề trước những tình huống cấp bách đó mà không thể làm gì cả, điều đó là sự hạn chế trong việc đối phó với những sự cố của cuộc sống.

2-      Nếu chúng ta giả định rằng chúng ta đang đứng trước hai hệ thống - tiến sĩ Mahmoud Ama-rah nói: một hệ thống cho phép đa thê và phủ nhận tất cả mọi thứ đằng sau các mối quan hệ tội lỗi giữa hai giới, dùng những bàn tay thép đập mạnh những hành vi ăn chơi trác táng, những người đang tham gia vào các hình thức không đứng đắn; còn một hệ thống thì ngăn cấm chế độ đa thê nhưng cho phép quan hệ tội lỗi và bất chính giữa hai giới, không có bất cứ ngăn cản mạnh mẽ nào để giải quyết những thứ không tốt đẹp trong vấn đề này .. Như vậy, sự cho phép đa thê thực sự cần thiết, nó là giải pháp tốt hơn và trong sạch hơn hệ thống không cho phép đa thê bởi vì nó tôn vinh quyền phụ nữ và bảo vệ con cái của họ.

3-      Islam nhìn vào khía cạnh xã hội – cá nhân và tập thể -  nó nhìn vào lợi ích của xã hội và công chúng, nó đặt lợi ích chung của xã hội lên hàng đầu để tránh những điều nguy hại. Và từ sự nghiên cứu và xem xét kỹ lưỡng, chúng ta nói rằng quả thật có nhiều tình huống kêu gọi phải dùng đến giải pháp cho phép đa thê: những tình huống riêng biệt đối với phụ nữ như phụ nữ đã ly dị, phụ nữ góa, phụ nữ lỡ thời và phụ nữ vô sinh, và những tình huống dành riêng đối với đàn ông như chiến tranh, bản năng tình dục ...

 Những tình huống riêng biệt đối với phụ nữ:

-          Phụ nữ đã ly dị, phụ nữ góa, phụ nữ lỡ thời, ba nhóm này phải đối mặt với nỗi ám ảnh lớn về việc khó kết hôn với người đàn ông độc thân, và họ phải sống vật lộn với ngọn lửa của bản năng sinh lý và lòng hàm muốn, trước mặt họ chỉ có hai lựa chọn: hoặc là họ sẽ dập tắt ngọn lửa đó theo con đường quan hệ bất chính và tệ nạn thác loạn hoặc là họ sẽ là những người vợ chân chính của những người đàn ông đã có vợ và họ sẽ trở thành người vợ thứ hai hoặc thứ ba hoặc thứ tư, được đảm bảo quyền lợi và địa vị trong xã hội, và đây là giải pháp duy nhất thực tế và tối ưu để phụ nữ không rơi vào con đường tệ nạn và lầm lạc.

-          Trường hợp người vợ vô sinh, theo bản chất tự nhiên, người chồng luôn mong muốn có con, lúc bấy giờ chỉ có hai giải pháp mà không có giải pháp thứ ba cho hai vợ chồng: hoặc là người chồng ly dị vợ để tìm một người vợ khác để đáp ứng nhu cầu con cái hoặc là người chồng cưới thêm vợ và anh ta vẫn sống đời sống vợ chồng với người vợ vô sinh một cách yêu thương và yên bình.

Lựa chọn giải pháp thứ hai là gần nhất với sự sáng suốt, trí tuệ và thực tế giúp thoát khỏi cảnh ly dị phá tan mái ấm gia đình. Và có thể người vợ vô sinh sẽ quên đi nỗi đau không thể sinh con và sẽ tìm thấy niềm vui bên những đứa con của người vợ kia. Và Allah là Đấng Tạo Hóa bất cứ thứ gì Ngài muốn, bất cứ mọi vật, mọi sự việc đều nằm trong sự định đoạt và an bài của Ngài. Allah I phán:

﴿لِلَّهِ مُلۡكُ ٱلسَّمَٰوَٰتِ وَٱلۡأَرۡضِۚ يَخۡلُقُ مَا يَشَآءُۚ يَهَبُ لِمَن يَشَآءُ إِنَٰثٗا وَيَهَبُ لِمَن يَشَآءُ ٱلذُّكُورَ ٤٩ أَوۡ يُزَوِّجُهُمۡ ذُكۡرَانٗا وَإِنَٰثٗاۖ وَيَجۡعَلُ مَن يَشَآءُ عَقِيمًاۚ  إِنَّهُۥ عَلِيمٞ قَدِيرٞ ٥٠﴾ [سورة الشورى: 49، 50]

{َQuyền thống trị và chế ngự các tầng trời và trái đất đều ở nơi Allah, Ngài tạo hóa vật gì Ngài muốn theo ý Ngài, Ngài ban con gái cho ai Ngài muốn và ban con trai cho ai Ngài muốn, hoặc Ngài ban cả hai, nam và nữ, và Ngài làm cho hiếm muộn đối với ai Ngài muốn. Quả thật, Ngài là Đấng Toàn Tri và Định Đoạt (mọi thứ).} (Chương 42 – Ash-Shura, câu 49, 50).

 Những tình huống dành riêng đối với nam:

-          Một số người đàn ông có ham muốn tình dục rất cao, họ không có khả năng kiểm soát bản năng tình dục mãnh liệt của họ, cho nên đối với họ thì một người phụ nữ không thể đáp ứng cho nhu cầu của họ, hoặc là do cô ta có cơ thể yếu ớt, hoặc ham muốn tình dục thấp hơn, hoặc mang căn bệnh mãn tính, hoặc đã lớn tuổi. Trường hợp này, nên bắt người đàn ông ức chế và đè nén sự ham muốn bản năng của mình lại, hay để mặc y thực hiện hành vi tình dục ngoài luồng một cách tự do theo ý của y để đáp ứng ham muốn bản năng của y,  hay cho phép y cưới thêm vợ để thỏa lấp sự ham muốn đó nhưng vẫn đảm bảo cuộc sống vợ chồng với người vợ thứ nhất? Giải pháp thứ ba là lựa chọn sáng suốt, khôn ngoan, trí tuệ, chuẩn mực và đúng đắn bởi lẽ nó không những giúp người chồng giải tỏa lòng hàm muốn tự nhiên không thể dập tắt, giữ ổn định tình trạng xã hội khỏi tình trạng quan hệ tình dục bừa bãi và thú tính và đảm bảo sự tôn nghiêm và cao quý của người vợ thứ nhất.

-          Những trường hợp làm cho số lượng phụ nữ nhiều hơn đàn ông - chẳng hạn như trường hợp chiến tranh, bệnh dịch .. - là trường hợp làm rối loan xã hội một cách rất rõ rệt, người nắm luật điều hành phải làm thế nào để cân bằng xã hội, để đảm bảo tình trạng cuộc sống tinh thần cho đàn ông và phụ nữ một cách hài hòa và ổn định tránh tình trạng quan hệ nam nữ một cách bất chính, suy đồi và tệ nạn xã hội? Quả thật chỉ có thể chọn một trong ba giải pháp:

Giải pháp thứ nhất: Mỗi một người đàn ông chỉ kết hôn với một người phụ nữ duy nhất, còn lại một hoặc hai phụ nữ - tính theo tỉ lệ nữ nhiều hơn nam – thì không thể kết hôn do không có người đàn ông độc thân nào còn lại, những người phụ nữ này phải cam chịu với cuộc sống không chồng, không con cái và không có mái ấm gia đình.

Giải pháp thứ hai: Mỗi một người đàn ông chỉ kết hôn với một người phụ nữ duy nhất, còn những người phụ nữ còn lại sẽ sống một cuộc sống như một người tình bất chính với bất cứ người đàn ông đã có vợ không được pháp luật thừa nhận là người vợ, và con cái của họ nếu có sẽ không được pháp luật thừa nhận là con của cha nó mà sẽ là những đứa con rơi không được đảm bảo quyền nuôi dưỡng từ người cha.

Giải pháp thứ ba: Mỗi một người đàn ông được phép kết hôn với nhiều hơn một phụ nữ, tất cả phụ nữ đều có chồng và đều là những người vợ chính thức được pháp luật đảm bảo quyền lợi của họ, họ có mái ấm gia đình, con cái của họ đều được pháp luật đảm bảo quyền nuôi dưỡng từ cha của họ, lúc bấy giờ xã hội không có con rơi, không có phụ nữ sống dưới dạng người tình bất chính và lén lút gây mất trật tự xã hội, không xảy ra tình trạng tội phạm do vấn đề quan hệ nam nữ bất chính mang lại.

Trong ba giải pháp, đâu là giải pháp tối ưu cho tình trạng phụ nữ nhiều hơn nam giới, đâu là cách để bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ, đâu là cách để đảm bảo sự ổn định cuộc sống trong mối quan hệ xã hội?

Câu trả lời là không có sự chọn lựa nào khác ngoài giải pháp thứ ba, và không có suy nghĩ nào khác ngoài giải pháp thứ ba này bởi vì nó là giải pháp bắt buộc để giải quyết tình trạng khẩn cấp, nó là giải pháp duy nhất làm cho người phụ nữ hài lòng và cảm thấy yên bình không lo sợ bản thân mình phải rơi vào tình trạng tệ nạn của xã hội. Quả thật, phụ nữ Đức, chính họ đã yêu cầu và đề nghị nhà nước của họ chấp nhận chế độ đa thê khi mà có nhiều người đàn ông và thanh niêm nam giới đã ra đi trong chiến tránh thế giới, họ mong muốn bảo vệ bản thân họ khỏi những con đường lệch lạc, họ muốn bảo vệ con cái của họ dưới sự đảm bảo của luật pháp. Đó là khuyến cáo được nêu lên trong đại hội thanh niên thế giới được diễn ra tại Munich, Đức về việc hợp thức hóa chế độ đa thê nhằm giải quyết vấn đề tỉ lệ chênh lệch nhiều phụ nữ ít đàn ông sau cuộc chiến thế giới thứ hai.([4])

Luận điểm thứ năm: Quả thật Islam qui định cho vấn đề đa thê với điều kiện “đối xử công bằng”, Islam không qui định sự đa thê là nghĩa vụ bắt buộc của phụ nữ và cũng không ép buộc và cưỡng bức phụ nữ chấp nhận mà người phụ nữ có quyền chấp nhận và từ chối, dù là phụ nữ còn con gái hãy đã từng có chồng, tất cả đều có quyền tự do quyết định theo ý muốn của mình trong việc chấp nhận hay từ chối; không ai có quyền cưỡng bức hay ép buộc những gì người phụ nữ không muốn bởi Thiên sứ của Allah e đã nói:

))لاَ تُنْكَحُ الأَيِّمُ حَتَّى تُسْتَأْمَرَ وَلاَ تُنْكَحُ الْبِكْرُ حَتَّى تُسْتَأْذَنَ(( رواه البخاري ومسلم.

“Không được phép gả người phụ nữ đã từng có chồng trừ phi cô ta yêu cầu, và không được phép gả người phụ nữ còn con gái trừ phi đã hỏi ý” (Albukhari, Muslim).

Một người phụ nữ trẻ đến than phiền với Thiên sứ của Allah e về việc cha cô ta muốn gả cô ta cho người anh (em) họ của cô ta mà không có sự đồng ý của của cô ta. Cô ta nói với A’ishah i: Quả thật, cha tôi muốn gả tôi cho người anh (em) họ của tôi nhưng tôi lại không thích. Bà A’ishah i bảo cô ta: cô hãy ngồi đợi đến khi Thiên sứ của Allah e đến. Khi Thiên sứ của Allah e đến, cô ta nói với Thiên sứ của Allah về sự việc đó thì Người đã gởi đến cha của cô ta thông điệp bảo sự việc là ở nơi cô ta tức cô ta có quyền quyết định. Người phụ nữ đó nói: Thưa Thiên sứ của Allah, tôi đã chuẩn bị làm điều đó với cha của tôi, tuy nhiên, tôi chỉ muốn dạy cho các phụ nữ biết một điều gì đó trong sự việc này. (Annasa-i, Ibnu Ma-jah, và Ahmad).

 Tóm lược lại:

Islam cho phép sự đa thê như là một giải pháp có kèm theo điều kiện, đó là phải đối xử công bằng. Islam xem việc cho phép đa thê là giải pháp tối ưu trong những tình trạng khẩn cấp nhằm để bảo vệ xã hội được ổn định và trật tự trong mối quan hệ xã hội. Mặc dù Islam cho phép như thế nhưng sự đa thê không được phổ biến rộng rãi đến mức thành một hình ảnh làm phụ nữ khó chịu và phiền toái cũng như khiến những người có trái tim bệnh hoạn luôn muốn dùng suy nghĩ và cây bút của họ chỉ trích và phản bác Qur’an.

Một số người tuy không phải là người Muslim nhưng là những người khách quan và công bình, họ hành động theo trí tuệ và khoa học, họ không bóp méo sự thật theo sở thích của họ, họ chỉ nói đúng theo bản chất thực của sự việc, khi họ quan sát và nghiên cứu thì đã khen ngợi giải pháp cho phép đa thê của Islam. Etienne Dinier nói trong cuốn sách của ông mang tựa đề “Muhammad Thiên sứ của Allah”: Quả thật, quan điểm một vợ là quan điểm mà Kitô giáo đã thể hiện vỏ bọc bên ngoài nhưng bên dưới lại đầy những điều xấu và tệ nạn, và đáng chú ý nhất là ba hậu quả thực tế mang mối nguy hại nghiêm trọng cho xã hội, đó là nạn mại dâm, tình trạng phụ nữ chưa lập gia đình, trẻ em không được pháp luật công nhận (con rơi và trẻ em vô gia cư). Những căn bệnh xã hội này mang lại điều xấu và tồi tệ cái mà nó không được biết đến trong những quốc gia có áp dụng luật Islam một cách đúng đắn và triệt để.([5])

Nhà văn người Anh – tờ báo của London Trott – nói: Trái tim tôi cảm thấy thương cảm và xót xa cho số phận phụ nữ bị bản năng tình dục chà đạp, sự đau buồn và thương xót của tôi không giúp ích được gì cho dù nó được sự đồng cảm của tất cả mọi người; việc làm hữu ích để ngăn chặn tình trạng xấu xa này chỉ có một giải pháp duy nhất, đó là cho phép người đàn ông cưới nhiều hơn một vợ, với cách này những tai họa sẽ tan biến và phụ nữ sẽ trở thành những người chăm sóc mái ấm gia đình, và tai họa của tất cả mọi tai họa là sự bắt buộc người đàn ông châu Âu chỉ được phép cưới một vợ ...([6])

Như vậy xã hội đã đóng lại những cánh cửa liên quan đến giáo luật là xã hội luôn tuyên truyền và kêu gọi sự tự do và các quyền bằng cách bày vẽ và trang hoàng cho con đường thấp hèn để thể hiện ham muốn bản năng, đâu là tôn vinh và quí trọng mà họ muốn dành cho phụ nữ? Quả thật, Allah I  là chân lý khi Ngài phán:

﴿مُحۡصَنَٰتٍ غَيۡرَ مُسَٰفِحَٰتٖ وَلَا مُتَّخِذَٰتِ أَخۡدَانٖۚ﴾ [سورة النساء: 25]

{Hãy xem họ như phụ nữ được cưới hỏi đàng hoàng chứ không như đàn bà ngoại tình cũng không như tình nhân vụng trộm.} (Chương 4 – Annisa, câu 25).

Tuy nhiên, những người phương Tây thì lại nói:

﴿أَخۡرِجُوٓاْ ءَالَ لُوطٖ مِّن قَرۡيَتِكُمۡۖ إِنَّهُمۡ أُنَاسٞ يَتَطَهَّرُونَ ٥٦﴾ [سورة النمل: 56]

{“Hãy trục xuất gia đình của Lut ra khỏi thành phố của quí vị! Chúng là những người muốn giữ mình trong sạch”.} (Chương 27 – Annaml, câu 56).

 Giải tỏa những mơ hồ về vấn đề nữ giới hưởng của thừa kế bằng một nửa của nam giới

Đúng thực là các câu Kinh Qur’an nói về quyền thừa kế tài sản đều được Allah Tối Cao phán:

﴿لِلذَّكَرِ مِثۡلُ حَظِّ ٱلۡأُنثَيَيۡنِۚ﴾ [سورة النساء: 11]

{Phần của con trai bằng hai phần của con gái.} (Chương 4 – Anni-sa, câu 11).

Tuy nhiên, nhiều người cố tình đưa ra những luận điểm gây khúc mắc xung quanh tình trạng của phụ nữ trong Islam, họ lấy các tiêu chí trong việc thừa hưởng tài sản thừa kế để làm phương tiện cho sự không hiểu của họ rằng tại sao phụ nữ lại chỉ được hưởng bằng một nửa của đàn ông.

Thật ra Qur’an không hề nói: Allah sắc lệnh trong việc phân chia tài sản và những người thừa kế rằng nam giới bằng hai phần của nữ giới mà Qur’an chỉ nói:

﴿يُوصِيكُمُ ٱللَّهُ فِيٓ أَوۡلَٰدِكُمۡۖ لِلذَّكَرِ مِثۡلُ حَظِّ ٱلۡأُنثَيَيۡنِۚ﴾ [سورة النساء: 11]

{Allah sắc lệnh cho các ngươi về việc con cái của các ngươi được hưởng gia tài thừa kế như sau: Phần của con trai bằng hai phần của con gái.} (Chương 4 – Anni-sa, câu 11).

Như vậy, rõ ràng tiêu chí này không nguyên tắc cho tất cả mọi trường hợp phân chia tài sản thừa kế mà nó chỉ dành riêng ở một số trường hợp nhất định và rất giới hạn.

Tính triết lý thực sự của Islam về phân chia tài sản thừa kế là dựa theo trách nhiệm chi tiêu của người thừa kế chứ không dựa theo tiêu chí giới tính nam nữ, và tính triết lý này của Islam đến từ Thượng Đế mang những ý chỉ và sự phán xét của Đấng Chủ Tể, và sự chênh lệch trong phân chia tài sản thừa kế cho những người thừa hưởng được dựa trên ba tiêu chí sau:

Tiêu chí thứ nhất: Mức độ quan hệ huyết thống và thân thích giữa những người thừa kế dù là nam hay nữ với người để lại tài sản thừa kế. Mức độ quan hệ huyết thống và thân thích càng gần thì phần thừa hưởng càng tăng trong tài sản thừa kế, ngược lại, mức độ quan hệ huyết thống và thân thích càng xa thì phần thừa hưởng càng giảm trong tài sản thừa kế; chứ không dựa vào giới tính của người thừa kế. Thí dụ: con gái của người chết sẽ hưởng phần tài sản thừa kế nhiều hơn cha và mẹ của người chết.

Tiêu chí thứ hai: Tình trạng thực tế của người thừa kế trong cuộc sống .. các thế hệ tiếp nhận cuộc sống tương lai và chuẩn bị cho gánh nặng của nó (thế hệ con cháu) sẽ hưởng phần tài sản thừa kế nhiều hơn các thế hệ mà cuộc sống của họ đã lùi lại ở phía sau và gánh nặng của cuộc sống tương lại đã giảm bớt đối với họ (thế hệ cha mẹ, ông bà). Thí dụ: con gái của người chết hưởng phần tài sản thừa kế nhiều hơn mẹ của người chết mặc dầu cả hai đều là nữ giới, con gái của người chết cũng hưởng nhiều hơn cha của người chết mặc dù cha là nam giới và ngay cả trường hợp đứa con gái của người chết chỉ là một đứa bé nằm nôi chưa nhận dạng được cha của nó, nếu con gái của người chết là đứa con duy nhất thì lúc nào cũng sẽ hưởng chắc chắn một nửa tài sản thừa kế; tương tự, con trai của người chết hưởng nhiều hơn cha của người chết mặc dù cả hai đều là giới nam.

Tiêu chí thứ ba: Trách nhiệm tài chính mà giáo luật qui định thành nghĩa vụ và bổn phận cho người thừa kế đối với người khác .. đây là tiêu chí duy nhất có sự khác biệt giữa nam và nữ .. nhưng không phải là phân biệt giới tính mà là sự khác biệt về tiêu chí trách nhiệm và gánh vác nghĩa vụ tài chính. Người chị (em) gái đã có gia đình được hưởng quyền nuôi dưỡng và chu cấp từ phía người chồng của cô ta, cho nên cô ta hưởng tài sản thừa kế bằng một nửa anh (em) trai cô ta, bởi vì người anh (em) trai của cô ta còn phải có trách nhiệm nuôi dưỡng và chu cấp cho vợ và con cái của anh ta; còn nếu như người chị (em) gái còn độc thân thì cô ấy cũng hưởng bằng một nửa anh (em) trai cô ta và số tài sản đó thuộc quyền sở hữu riêng biệt của cô ta, tuy nhiên, người anh (em) trai của cô ta vẫn phải có trách nhiệm chu cấp cho cô ta. Tương tự, trường hợp của con cái cũng thế, con gái hưởng bằng một nửa con trai.

Và những ai cho rằng Islam không công bằng với phụ nữ thì hãy nghiên cứu kỹ lưỡng những tình huống phân chia tài sản thừa kế thì sẽ thấy rõ rằng không phải lúc nào nam giới cũng hơn nữ giới, hãy so sánh các trường hợp sau:

-          Chỉ có bốn trường hợp người phụ nữ hưởng bằng một nửa của đàn ông.

-          Có hơn bốn trường hợp người phụ nữ hưởng ngang bằng như nam giới.

-          Có hơn mười trường hợp phụ nữ hưởng nhiều hơn đàn ông.

-          Có những trường hợp chỉ có nữ giới được hưởng còn nam giới không có gì cả.

Chốt lại thì quả thật có hơn 30 trường hợp nữ giới hưởng ngang bằng, hoặc nhiều hơn, hoặc chỉ nữ giới hưởng còn nam giới thì không, ngược lại chỉ có vỏn vẹn bốn trường hợp là nam giới hưởng gấp đôi nữ giới.

 Giải tỏa điều chưa rõ về việc nói rằng giọng nói của phụ nữ là Awrah (phần kín đáo) và ý nghĩa rằng phụ nữ được tạo ra từ xương sườn cong oằn.

Một trong những điều được lan truyền rộng rãi trong công chúng rằng Islam coi tiếng nói của phụ nữ là phần kín đáo cần được che lại. Chúng ta không cần phải bàn nhiều về vấn đề này bởi nó không có cơ sở giáo lý nào cả, và điều ngược lại với nó mới là đúng đắn, mới là sự thật; và cơ sở để bác bỏ sự tố cáo này thì rất nhiều.

Chẳng hạng như Kinh Qur’an kể chúng ta nghe về hai người con gái của Shu’aib đã nói chuyện với Musa (Moses) u:

﴿وَلَمَّا وَرَدَ مَآءَ مَدۡيَنَ وَجَدَ عَلَيۡهِ أُمَّةٗ مِّنَ ٱلنَّاسِ يَسۡقُونَ وَوَجَدَ مِن دُونِهِمُ ٱمۡرَأَتَيۡنِ تَذُودَانِۖ قَالَ مَا خَطۡبُكُمَاۖ قَالَتَا لَا نَسۡقِي حَتَّىٰ يُصۡدِرَ ٱلرِّعَآءُۖ وَأَبُونَا شَيۡخٞ كَبِيرٞ ٢٣﴾ [سورة القصص: 23]

{Và khi đến những địa điểm có nước của địa phận Madyan, Y (Musa) thấy nơi đó có một đám người đang múc nước (cho đàn cừu của họ uống) và ngoài đám người đó, Y thấy hai phụ nữ đang giữ (đàn cừu của họ) lại phía sau. Y đến hỏi hai nàng: “Hai cô có chuyện gì vậy?” Họ trả lời: “Chúng tôi không thể múc nước cho đàn cừu của chúng tôi uống được trừ phi những người chăn cừu dắt đàn cừu của họ rời khỏi chỗ đó. Và cha của chúng tôi thì đã già yếu (không thể giúp được chúng tôi).} (Chương 28 – Al-Qisas, câu 23).

Kinh Qur’an kể lời của một trong hai người con gái đó đã nói với Nabi Musa u:

﴿إِنَّ أَبِي يَدۡعُوكَ لِيَجۡزِيَكَ أَجۡرَ مَا سَقَيۡتَ لَنَاۚ﴾ [سورة القصص: 25]

{Quả thật cha tôi mời ông đến gặp người để người hậu đãi ông về ơn nghĩa ông đã múc nước giùm chúng tôi.} (Chương 28 – Al-Qisas, câu 25).

Vậy đâu là Awrah (phần kín đáo) từ tiếng và giọng nói của hai người con gái Shu’aib khi họ nói chuyện với Musa u?

Liệu có thể tin được chăng rằng phụ nữ không được phép nói chuyện trong khi rõ ràng họ được Islam cho phép mua bán kinh doanh, được phép khuyên nhủ nhau, được phép gọi bảo nhau làm điều thiện tốt và ngăn cản nhau làm điều sai quấy và tội lỗi? Allah I phán:

﴿وَٱلۡمُؤۡمِنُونَ وَٱلۡمُؤۡمِنَٰتُ بَعۡضُهُمۡ أَوۡلِيَآءُ بَعۡضٖۚ يَأۡمُرُونَ بِٱلۡمَعۡرُوفِ وَيَنۡهَوۡنَ عَنِ ٱلۡمُنكَرِ وَيُقِيمُونَ ٱلصَّلَوٰةَ وَيُؤۡتُونَ ٱلزَّكَوٰةَ وَيُطِيعُونَ ٱللَّهَ وَرَسُولَهُۥٓۚ أُوْلَٰٓئِكَ سَيَرۡحَمُهُمُ ٱللَّهُۗ إِنَّ ٱللَّهَ عَزِيزٌ حَكِيمٞ ٧١﴾  [سورة التوبة: 71]

{Và những người có đức tin nam và nữ, là đồng minh bảo vệ lẫn nhau, họ gọi bảo nhau làm điều lành và ngăn cấm cản nhau làm điều xấu, năng dâng lễ nguyện Salah, xuất Zakah và tuân lệnh Allah và Thiên sứ của Ngài. Họ là những người sẽ được Allah thương xót. Quả thật Allah là Đấng Quyền Năng và Sáng Suốt.} (Chương 9 – Attawbah, câu 71).

Quả thật, một người phụ nữ đã đứng giữa Masjid bảo Umar Al-Khattab t làm theo câu Kinh Qur’an khi ông muốn hạn chế số tiền Mahar (tiền sính lễ người chồng phải đưa cho cô dâu). Bà nói: Chẳng lẽ ông không nghe lời phán của Allah:

﴿وَءَاتَيۡتُمۡ إِحۡدَىٰهُنَّ قِنطَارٗا فَلَا تَأۡخُذُواْ مِنۡهُ شَيۡ‍ًٔاۚ﴾ [سورة النساء: 20]

{Và các ngươi đã tặng mỗi người vợ một đóng vàng (tiền cưới) thì các ngươi không được phép lấy lại một tí nào cả.} (Chương 4 – Annisa’, câu 20).

Umar t đã nói với mọi người câu nói nổi tiếng: »Người phụ nữ đã đúng còn Umar đã sai! «.

Người mẹ của những người có đức tin, Ummu Salmah Hind i con gái của Abu Umaiyah  thuật lại rằng lúc Thiên sứ của Allah e đã Hijrah đến Madinah thì Zaynap con gái Thiên sứ của Allah xin phép chồng của bà Abu Al-Ass bin Arrabi’a, và lúc đó ông còn là người thờ đa thần, cho phép bà đến với Người e và ông đã cho phép bà. Thế là bà đến với Người e, rồi sau đó Abu Al-Ass bị bắt làm tù binh đưa về Madinah, ông đã gởi thư cho bà rằng nàng hãy xin cha nàng cho ta một sự khoan hồng.. Thế là vào giờ Fajar, bà ló đầu ra từ phía cánh cửa nội phòng của bà và Thiên sứ của Allah đang làm Imam dẫn lễ nguyện Salah cho mọi người, bà nói: Này hỡi mọi người, tôi là Zaynap con gái Thiên sứ của Allah, quả thật tôi xin bảo đảm tính mạng của Abu Al-Ass .. và khi Thiên sứ của Allah e đã hoàn thành cuộc lễ nguyện Salah thì Người nói:

)) أَيُّهَا النَّاسُ، إِنِّي لا عِلْمَ لِي بِهَذَا حَتَّى سَمِعْتُمُوهُ، أَلا وَإِنَّهُ يُجِيرُ عَلَى النَّاسِ أَدْنَاهُمْ ((الحديث أخرجه الألباني في السلسلة الصحيحة 6 – 770.

“Này hỡi mọi người, quả thật Ta không hề biết điều này cho đến khi các người đã nghe được nó, và quả thật dù một người có địa vị thấp kém nhất trong những người Muslim thì người đó vẫn có quyền bảo đảm tính mạng cho một người” (Hadith được Albani ghi lại trong bộ các Hadith Sahih của ông 6 – 770).

Như vậy chẳng phải Islam đã rất tôn trọng phụ nữ và cho họ vị trí và vai trò trong Islam cũng giống như nam giới. Chỉ những ai thiếu hiểu biết mới cho rằng Islam xem thường phụ nữ và không quý trọng họ. Tốt nhất là những người này nên chôn cái đầu của họ xuống đất vì việc làm đáng xấu hổ của họ đối với phụ nữ. Quả thật, họ đã xúc phạm đến danh dự và sự thiêng liêng của phụ nữ khi mà họ xem cơ thể phụ nữ như hàng hóa để mua bán. Bất cứ ai nhìn vào hoàn cảnh của những người phụ nữ phương Tây thì đều xót xa cho họ, họ sống như những món đồ để làm thỏa mãn tình dục thú tính cho những người đàn ông, họ được thúc giục khỏa thân trên danh nghĩa quyền tự do của phụ nữ, họ được thúc giục khêu gợi hình thể dưới danh nghĩa nghệ thuật và sáng tạo .. vậy đâu là sự tôn vinh đối với phụ nữ trong những điều đó?

Ä  Việc bóp méo sự thật không dừng lại, những kẻ thù của Islam cứ tìm cách bóp méo sự thật bằng những xảo ngôn để gây ra những ngộ nhận cho Islam, và một trong những ngộ nhận về Islam là họ nói rằng tôn giáo Islam xem phụ nữ là một tạo vật được tạo ra từ khúc xương sườn cong oằn.

Giải tỏa cho sự ngộ nhận này chúng ta cần phải nói đến Hadith sau đây:

Thiên sứ của Allah e nói:

))مَنْ كَانَ يُؤْمِنُ بِاللهِ وَالْيَوْمِ الْآخِرِ فَلَا يُؤَذِّيْ جَارَهُ وَاسْتَوْصُوا بِالنِّسَاءِ خَيْرًا ، فَإِنَّهُنَّ خُلِقْنَ مِنْ ضِلَعٍ ، وَإِنَّ أَعْوَجَ شَىْءٍ فِى الضِّلَعِ أَعْلاَهُ ، فَإِنْ ذَهَبْتَ تُقِيمُهُ كَسَرْتَهُ ، وَإِنْ تَرَكْتَهُ لَمْ يَزَلْ أَعْوَجَ فَاسْتَوْصُوا بِالنِّسَاءِ خَيْرًا(( رواه البخاري.

“Ai có đức tin nơi Allah và Ngày Sau thì chớ gây phiền hà cho người láng giềng của y; và các ngươi hãy khuyên bảo nhau đối xử tốt với phụ nữ, bởi quả thật họ được tạo ra từ khúc xương sườn, và quả thật ở phần trên cao của xương sươn có dạng cong, nếu các người cố gắng làm cho nó thẳng thì nó sẽ gãy còn nếu các người bỏ mặc nó thì nó vẫn cứ cong, bởi thế các người hay khuyên bảo nhau đối xử tốt với phụ nữ!” (Albukhari).

Con người học được điều gì từ Hadith này?

Thứ nhất: Thiên sứ của Allah e không nói phụ nữ được tạo ra từ khúc xương sườn cong oằn như những người kia đã khẳng định mà Người chỉ thông điệp rằng phụ nữ được tạo ra từ xương sườn. Đó là điều vô hình mà Allah I đã thông điệp cho vị Thiên sứ của Ngài e biết giống như Ngài đã thông điệp cho Người biết những điều vô hình khác, và người Muslim phải tin vào tất cả những điều đó. Trong Hadith, không hề có một điều gì mang hàm ý xấu cho người phụ nữ cả. Chẳng hạn như việc Allah I phán thông tin cho chúng ta biết rằng Ngài đã tạo con người từ đất sét, có phải điều này mang hàm ý rằng Islam xúc phạm con người chăng? Dĩ nhiên là không, bởi vì đó chỉ mang ý nghĩa thông tin về sự thật vô hình, điều mà không ai biết rõ ngoài Đấng Tạo Hóa cả, còn bổn phận và nghĩa vụ của chúng ta là phải tin.

Thứ hai: Thiên sứ của Allah e chỉ muốn thông tin cho chúng ta biết về sự thật tạo hóa của người phụ nữ rằng họ được tạo ra từ xương sườn của Nabi Adam u như đã được nói trong Qur’an:

﴿يَٰٓأَيُّهَا ٱلنَّاسُ ٱتَّقُواْ رَبَّكُمُ ٱلَّذِي خَلَقَكُم مِّن نَّفۡسٖ وَٰحِدَةٖ وَخَلَقَ مِنۡهَا زَوۡجَهَا وَبَثَّ مِنۡهُمَا ٗا كَثِيرٗا وَنِسَآءٗۚ وَٱتَّقُواْ ٱللَّهَ ٱلَّذِي تَسَآءَلُونَ بِهِۦ وَٱلۡأَرۡحَامَۚ إِنَّ ٱللَّهَ كَانَ عَلَيۡكُمۡ رَقِيبٗا ١﴾ [سورة النساء: 1]

{Này hỡi nhân loại! Hãy kính sợ Thượng Đế của các ngươi, Đấng đã tạo hóa các ngươi từ một cá thể duy nhất (Adam) và từ Y Ngài đã tạo ra người vợ của Y (Hauwa) rồi từ hai người họ Ngài đã rải ra vô số đàn ông và đàn bà (trên khắp trái đất). Và hãy kính sợ Allah, Đấng mà các người đòi hỏi (quyền hạn) lẫn nhau và hãy (kính trọng) dạ con bởi vì quả thật Allah luôn theo dõi các ngươi.} (Chương 4 - Annisa’, câu 1).

Thiên sứ của Allah e muốn cho chúng ta biết rằng sự thật về mối quan hệ giữa đàn ông và phụ nữ, và đó là mối quan hệ trọn vẹn và gần gũi có nghĩa là đàn ông từ phụ nữ và phụ nữ từ đàn ông, tất cả họ đều như nhau giống như Allah I đã phán:

﴿فَٱسۡتَجَابَ لَهُمۡ رَبُّهُمۡ أَنِّي لَآ أُضِيعُ عَمَلَ عَٰمِلٖ مِّنكُم مِّن ذَكَرٍ أَوۡ أُنثَىٰۖ بَعۡضُكُم مِّنۢ بَعۡضٖۖ ﴾ [سورة  آل عمران: 195]

{Bởi thế, Thượng Đế của họ đã đáp lại lời nguyện cầu của họ, Ngài nói: Quả thật, TA sẽ không đánh mất bất kỳ một việc làm nào của các ngươi, dù nam hay nữ,  người này hay người kia.} (Chương 3 – Ali ‘Imran, câu 195).

Và Hadith trên là một lời nhắn nhủ từ Thiên sứ của Allah e đến những người đàn ông rằng họ phải nên đối xử tử tế với phụ nữ tức đàn ông phải cư xử nhã nhặn, lịch sự, tốt đẹp với phụ nữ, phải kiên nhẫn với họ bởi quả thật bản chất tự nhiên của họ nghiêng về xúc cảm, họ dễ bị tổn thương và dễ xúc động, nên đàn ông cần phải kiên nhẫn trong việc dịu dàng, ân cần, từ tốn và nhẹ nhàng với họ.

Sheikh Ash-Shu’ara-wi nói với lời rất hay: (Về vấn đề này, chúng ta hiểu Hadith khi Thiên sứ của Allah e nói:

)) فَإِنَّهُنَّ خُلِقْنَ مِنْ ضِلَعٍ ، وَإِنَّ أَعْوَجَ شَىْءٍ فِى الضِّلَعِ أَعْلاَهُ ، فَإِنْ ذَهَبْتَ تُقِيمُهُ كَسَرْتَهُ ، وَإِنْ تَرَكْتَهُ لَمْ يَزَلْ أَعْوَجَ فَاسْتَوْصُوا بِالنِّسَاءِ خَيْرًا(( رواه البخاري.

“Bởi quả thật họ được tạo ra từ khúc xương sườn, và quả thật ở phần trên cao của xương sươn có dạng cong, nếu các người cố gắng làm cho nó thẳng thì nó sẽ gãy còn nếu các ngươi bỏ mặc nó thì nó vẫn cứ cong, bởi thế các người hay khuyên bảo nhau đối xử tốt với phụ nữ!” (Albukhari).

Khi chúng ta nhìn vào những khúc xương sườn trong khung ngực của chúng ta, chúng ta thấy rằng chúng ngoài việc có nhiệm vụ bảo vệ trái tim và hai lá phổi thì với phần cong của chúng nhắc nhở chúng ta phải luôn thương yêu và nâng niu hai bộ phận đó trong cơ thể chúng ta, và những phần cong đó phải được bảo vệ. Tương tự, hình ảnh phụ nữ cũng giống như thế, vai trò của họ rất quan trọng trong cuộc sống và họ cần được bảo vệ một cách ân cần và chu đáo, chẳng hạn như trong suốt thời gian họ mang thai thì họ cần phải được bảo vệ một cách đặc biệt và cần phải được yêu thương nhiều hơn nữa, và khi họ sinh nở thì sự chăm sóc ân cần càng được yêu cầu nhiều hơn nữa ..

Như vậy, đấy là điều mà Thiên sứ của Allah e muốn nói về quyền lợi của phụ nữ đối với đàn ông chứ không mang hàm ý hạn chế quyền của họ, vì sự cong của họ tức bản chất tự nhiên vốn mềm yếu và dễ tổn thương của phụ nữ là điều làm hoàn thiện vai trò của họ. Bởi lẽ đó, chúng ta thấy phụ nữ thường bị cảm xúc chế ngự lí trí còn đàn ông thì lí trí của họ mạnh mẽ hơn nên vai trò của đàn ông phù hợp với việc gánh vác cuộc sống còn phụ nữ thì phù hợp đảm đương việc nhà và chăm sóc chồng con, tuy nhiên cả hai cần nhau và hỗ trợ cho nhau. Tóm lại, Allah I tạo cả hai, đàn ông và phụ nữ đều có vai trò quan trọng như nhau).



([1]) Đệ nhị luật là quyển thứ năm trong Kinh Cựu Ước. Tên gọi "Đệ nhị luật" trong tiếng Việt của Công giáo Rôma bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: Deuteronomion (Latinh: Deuteronomium), nghĩa là "pháp luật thứ hai". Tuy nhiên, Tin Lành lại gọi quyển sách này là "Phục truyền luật lệ ký".

([2]) Dân số ký là quyển thứ tư của Kinh Cựu Ước.

([3]) Talmud là một văn bản trung tâm của giáo sĩ Do Thái. Toàn bộ kinh Talmud bao gồm 63 bài luận, trong bản in tiêu chuẩn dài hơn 6.200 trang. Nó được viết bằng tiếng Tannaitic Do Thái và tiếng Aram (tiếng Sy-ri). Talmud bao gồm những ý kiến của hàng ngàn giáo sĩ Do Thái trong nhiều chủ đề, bao gồm cả pháp luật, đạo đức, triết học, phong tục, lịch sử, thần học, truyền thuyết và nhiều chủ đề khác. Talmud là cơ sở cho tất cả các bộ luật của luật giáo đoàn Do Thái giáo và được nhiều trích dẫn trong các tài liệu giáo đoàn khác.

([4]) Tham khảo: “Chế độ đa thê và giới luật của nó trong Islam” của tiến sĩ Jumu’ah Alkhawli trang 4.

([5]) “Muhammad Thiên sứ của Allah” của Etienne Dinier, Sulayman Ibrahim trang 390, người chuyển ngữ: Abdul-Halim Mahood, Muhammad Adul-Halim.

([6]) “Quyền của phụ nữ trong Islam” của Rasheed Ridha trang 75.